VINH DANH NHÀ GIẢI PHẪU BỆNH VIỆT NAM - CỐ TTƯT - PGS.BS. NGUYỄN GIA QUYỀN

  23/04/2018

Cố TTƯT - PGS.BS. Nguyễn Gia Quyền

TÓM TẮT LÝ LỊCH:

Họ và tên:  Nguyễn Gia Quyền

Ngày sinh: 16-12-1923 tại Hà Nội

Là con cả trong gia đình có 7 anh chị em

Quê quán: Hà Nội

Trú quán: Phòng 108 K8 Khu tập thể Thành Công, Ba Đình, Hà nội

Cấp bậc:  Đại tá

Ngày vào Đảng: 06-01-1950

Mất: 19/8/1998 tại Bệnh viện Quân y 108 (nay là Bệnh viện TWQĐ 108)

Cố THÀY THUỐC ƯU TÚ - PGS.BS. Nguyễn Gia Quyền

QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC:

12/1946 đến 10/1949:  Sinh viên y khoa  nhập ngũ tại Bệnh xá Phú Yên, Bệnh xá Liên khu 8

10/1949 đến 6/1953: Ban Quân y 165 – Lao Hà,  F312:  Chủ nhiệm Quân y  Trung đoàn

8/1953 đến 7/1957:  Giảng viên Trường Quân y sỹ Việt nam  ( nay là Học viện Quân y)                  

1957- 1968 : Chủ nhiệm  đầu tiên của Bộ môn Giải phẫu bệnh và Tổ chức học- Học viện Quân y

 7/1957 đến 1967:  Chủ nhiệm đầu tiên của  khoa Giải phẫu bệnh- Viện Quân y 108

1967: Trưởng phòng  Pháp Y- Cục Quân Y (nay là Viện Pháp y Quân đội ):

1968: Đi học ở Liên Xô

1969-1975:    Đoàn trưởng Đoàn 69- Bộ Tổng Tham Mưu                            

1976-1981: Viện trưởng  Viện 69 - Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

1981   :  Phó Giáo sư                                                 

1981-1992: Phó Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Bảo Vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh                                       

1992-1994: Chuyên viên Bộ Tư Lệnh Bảo Vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh ra trong một gia đình công chức, sau khi đỗ tú tài ở trường Bưởi, ông là sinh viên của Đại học y Hà nội . Khi toàn quốc kháng chiến vào cuối năm 1946, ông đã xung phong vào Quân y tham gia kháng chiến và sau 7 năm vừa làm vừa học, ông đã tốt nghiệp Khóa Bác sỹ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

          Trong những năm ở đơn vị ông đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao phó, cứu chữa cho thương bệnh binh ngoài tiền tuyến trong các chiến dịch như Tây Bắc, Hòa Bình, giải phóng Lào Cai, Nghĩa Lộ, Bắc Hà, Lai Đồng Thu Cúc. Có lần ở ngoài mặt trận, dưới làn mưa đạn của địch, ông đã lấy thân mình che cho thương binh để che chở cho bệnh nhân của mình tránh khỏi thương vong.

Hòa bình lập lại, ông được phân công về giảng dạy ở trường Đại Học Quân Y và trường Đại Học Y Hà Nội, kiêm chủ nhiệm khoa của Quân y Viện 108. Ở cương vị này ông đã xây dựng được 2 khoa Giải phẫu bệnh của cả Đại học Quân y và Quân y viện 108  từ khi mới thành lập, đặc biệt là khoa Giải Phẫu Bệnh Lý của Viện 108  liên tục đạt danh hiệu Khoa Quyết Thắng. Bản thân ông cũng được Viện khen thưởng nhiều lần (4 năm liên tục là Chiến Sỹ Thi Đua của Viện)

Có lần ở chỗ sơ tán, không có máu cấp cứu cho bệnh nhân, ông đã xung phong hiến máu cho bệnh nhân thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo.

Đến năm 1968, trước tình hình sức khỏe của Bác, ông được Trung Ương cử sang Viện Lăng Lê Nin ở Liên Xô học môn bảo quản thi hài. Ông đã miệt mài học tập không quản ngại khó khăn, hóa chất độc hại để khi về giữ gìn thi hài của Bác.

             Từ năm 1969, ông là đoàn trưởng Đoàn 69, giữ gìn thi hài Bác ở K84 (giờ gọi là K9).  Trong những năm tháng đó, để giữ bí mật, đã 6 lần phải di chuyển thi hài Bác. Lần nào di chuyển ông cũng túc trực bên Bác, trong xe xung quanh chất đầy đá lạnh, thiếu không khí. Chuyên gia Nga có lần lên ngồi đi một lúc đã phải xuống không chịu được vì lạnh và ngột ngạt. Có lần sau khi làm nhiệm vụ, ông bị mất tiếng, phải nửa ngày sau ông mới nói lại được.

Đến năm 1981 ông được bổ nhiệm là Phó Tư Lệnh, Bộ Tư Lệnh Lăng

Ông đã xây dựng nên một Viện Nghiên cứu  là Viện 69, mục đích là để nghiên cứu sao cho mình có thể tự chủ được khoa học kỹ thuật giữ gìn lâu dài thi hài Bác, như Bộ Chính Trị đã giao phó là “Độc lập - Tự chủ”

            Ông đã mang hết tâm huyết, ngày đêm làm nhiệm vụ, không quản hy sinh, gian khổ để nghiên cứu và cuối đời ông đã thực hiện được chỉ thị của Bộ Chính Trị là chúng ta có thể hoàn toàn Độc lập - Tự chủ trong việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

         Nghệ thuật gìn giữ thi hài không phải là điều mới lạ đối với đất nước ta. Các thi hài trong nhiều ngôi mộ thời Lê, của hai vị sư chùa Đậu (Hà Tây) đã nói lên điều đó. Nhưng trong các trường hợp trên, mô và tế bào đã bị biến dạng, còn lưu giữ nguyên vẹn các mô và tế bào thì ở Việt Nam chỉ có một người đi đầu trong ngành khoa học hoàn toàn mới này, đó là đại tá giáo sư Nguyễn Gia Quyền.

        Sinh ra trong một gia đình công chức, học xong tú tài ở trường Bưởi, ông thi vào trường Y. Kháng chiến bùng nổ, ông theo thầy, theo trường tham gia kháng chiến như những thanh niên khác cùng chí hướng. Vào ngành quân y, và sau 7 năm học chính qui ông tốt nghiệp khóa bác sỹ đầu tiên của nước Việt nam độc lập cùng với nhiều đồng nghiệp nay là giáo sư hoặc chuyên viên đầu ngành của ngành y. Ngay sau khi được phân công phục vụ các đơn vị chiến đấu ông đã đem hết nhiệt tình, trình độ góp phần để bộ đội có sức khỏe đánh thắng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Có lần hồi còn làm chủ nhiệm quân y ở vùng có chiến sự, địch bắn phá ác liệt, ông đã lấy thân mình đè lên thương binh để che chở. Sau này bác sỹ Quyền nhớ lại: “Hồi đó tôi hành động rất tự nhiên, không chút lo sợ cho bản thân mà chỉ muốn sự an toàn cho thương binh ...

          Hòa bình lập lại, bác sỹ Quyền được phân công về giảng dạy tại trường Đại học Y với môn tế bào học - môn mà các sinh viên chán nhất, vì suốt ngày chỉ chúi mũi vào kính hiển vi và các tiêu bản. Khi đó các giáo sư đi ô tô đến trường giảng dạy, còn ông đi chiếc xe đạp cũ kỹ với bộ quần áo bộ đội bạc phếch bước lên bục giảng, nhiều sinh viên xì xào: :Quái, cái ông bộ đội nào mà cả gan vào đây”. Chẳng bao lâu, các bài giảng tưởng như khô khan nhưng với sự sáng tạo hiếm có cùng lòng nhiệt tình của giáo sư Nguyễn Gia Quyền đã cuốn hút các sinh viên vào thế giới kỳ lạ đầy màu sắc và hình thái của các mô, tế bào. Tuy nhiên ông cũng rất nghiêm khắc với những sinh viên vi phạm kỷ luật, lười học. Ông nói: “Có cậu sinh viên chỉ học vẹt trong sách vở mà không xem kỹ các tiêu bản, tôi đã nhẹ nhàng cho rút kinh nghiệm, thi lại bác sỹ khóa sau, cậu này sau trở thành một thầy thuốc giỏi”.

         Năm 1967, bác sỹ Nguyễn Gia Quyền khi đó là thiếu tá, chủ nhiệm khoa giải phẫu Bệnh viện 108, trưởng phòng pháp y Cục Quân Y ( nay là Viện Pháp y Quân đội) cùng bác sỹ Lê Ngọc Mẫn - chủ nhiệm khoa nội tiết bệnh viện Bạch Mai và bác sỹ Lê Điều - chủ nhiệm khoa ngọai bệnh viện Việt Xô được cử đi học môn bảo quản thi hài tại Viện nghiên cứu khoa học thuộc Lăng Lê-Nin. Chuyến đi này được giữ bí mật tuyệt đối vì nếu lộ ra thì nhân dân rất hoang mang lo ngại cho sức khỏe của Bác.

        Ngay cả khi sang Liên Xô (cũ), đoàn bác sỹ Việt Nam cũng sinh họat rất bí mật và được phục vụ rất chu đáo. Phần lý thuyết phải tự tham khảo còn phần thực hành do giáo sư Charovatop - người tham gia ướp giữ thi hài Dmitrop trực tiếp hướng dẫn. Đối tượng thực hành là các thi thể người già trên 60 tuổi nên việc tìm kiếm thi thể loại này rất khó khăn. Nhiều ngày trời lạnh, mưa tuyết phủ trắng trên đường phố, đoàn phải tới các bệnh viện xa thủ đô hai ba trăm cây số để tìm kiếm tử thi thực tập. Điều kiện học tập cũng hết sức khắc nghiệt, giáo sư Quyền cho biết: “Nhiều hôm chúng tôi phải làm việc suốt ngày trong phòng kín, không khí ngột ngạt, khó thở bởi mùi hóa chất xông lên nồng nặc, nhưng điều chúng tôi lo lắng nhất là có điều chẳng lành xảy ra với Bác trong khi chúng tôi chưa nắm hết kỹ thuật. Cho đến ngày cuối cùng, lúc đã ngồi trên con tàu liên vận trở về Tổ quốc, nghe đài phát thanh Hà Nội báo tin chiến thắng, gặp lại các đồng chí ra đón chúng tôi mới thở phào nhẹ nhõm vì đã không về muộn và Bác của chúng ta vẫn mạnh khỏe”. Về tới Hà Nội, sau khi báo cáo kết quả với tổ chức, bác sỹ Quyền trở lại làm việc bình thường và chuẩn bị các điều kiện vật chất cho công việc thiêng liêng sau này ...

        Rồi điều không ai mong chờ đã xảy đến. Vừa được tin Bác mất, Giáo sư Quyền đã cùng các chuyên gia bắt tay ngay vào các công việc cần thiết bảo quản các mô, tế bào để lưu giữ thi hài Bác cho các thế hệ mai sau còn có dịp chiêm ngưỡng vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam. Giáo sư kể lại: “Là một bác sỹ thường xuyên tiếp xúc với các thi thể nhưng lúc đó tôi vẫn không thể cầm lòng được; tuy cố giải quyết chính xác công việc nhưng người cứ lâng lâng như đi trên mây, nước mắt cứ trực trào ra ...”  Bảo quản thi hài xong phải cất giữ ở nơi an toàn vì Lăng lúc đó chưa xây và máy bay Mỹ còn đang bắn phá. Đây là thời kỳ khó khăn nhất đối với giáo sư Quyền. “Lúc 10 giờ 45 phút chúng tôi đưa thi hài Bác về bệnh viện 108, lúc 12h45, công việc bảo quản bắt đầu. Sau đó đưa Người lên nhà Quốc hội để toàn dân và bạn bè đến viếng rồi lại chuyển về bệnh viện 108 và cuối cùng đưa thi hài Bác tới địa điểm tập kết đã được chuẩn bị từ trước mang bí danh K84. Suốt thời gian đó, lúc nào tôi cũng ở đơn vị không về nhà riêng mặc dù chỉ cách nhà có vài trăm mét. Bà nhà tôi cũng vất vả không kém - ông nói vui - thay chồng nuôi dạy con cái đến nơi đến chốn trong điều kiện chiến tranh giặc Mỹ bắn phá ác liệt, các cháu thành đạt là nhờ bà ấy”.

         Từ 1969-1975, để đảm bảo bí mật và an toàn, đã 6 lần di chuyển thi hài Bác trong những điều kiện hết sức khó khăn, luôn phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố khoa học trong việc bảo quản. Chính trong thời gian này, giáo sư đã cùng các chuyên gia Bạn mày mò, nghiên cứu làm tốt việc lưu giữ các mô, tế bào thi hài Bác trong điều kiện nhiệt đới, độ ẩm cao, nấm mốc phát triển mạnh. Trong ngành bảo quản, yếu tố cơ bản là không để các mô tế bào bị thối rữa hay teo lại, tiếp đó là phải đảm bảo về nhiệt độ luôn ở mức tối ưu và cuối cùng là chống vi khuẩn và nấm mốc. Tuy nhiên Việt Nam là xứ nhiệt đới nên vấn đề chống nấm mốc được đặt lên hàng đầu. Giáo sư Quyền cho biết: ‘Có lần, đòan đưa thi hài Bác đến vùng rừng núi độ ẩm hết sức cao, chăn màn để vài hôm trong tủ bỏ ra đã ướt ...”.Bên cạnh đó là vấn đề bảo quản, chuẩn bị dụng cụ hóa chất sao cho đảm bảo đúng tiêu chuẩn. Hàng ngày kiểm tra độ ẩm để kịp thời xử lý nếu có sự cố. Ngoài công tác chuyên môn, giáo sư Quyền kiêm luôn chức đoàn trưởng phụ trách về các mặt quân sự, kỹ thuật, đối ngoại, hậu cần của đoàn. Công việc tuy nhiều nhưng với cách sắp xếp khoa học và lòng nhiệt tình vốn có, giáo sư luôn đảm bảo làm tròn trách nhiệm. Một ví dụ điển hình là ngày 21-11-1970, giặc Mỹ cho trực thăng đổ bộ để cứu tù binh ngay gần nơi đóng quân, anh em trong đoàn đã phối hợp với các đơn vị bảo vệ vòng ngoài quyết tâm bảo vệ giấc ngủ của Bác nếu địch liều lĩnh tấn công ...

          Giáo sư bác sỹ Nguyễn Gia Quyền không bao giờ quên thời điểm 20h ngày 18-7-1975, sau 6 năm với 6 lần di chuyển, thi hài Bác Hồ kính yêu đã được đưa về quảng trường Ba Đình nguyên vẹn, trông Bác vẫn thanh thản như khi đang ngủ. Ngôi Lăng đồ sộ, chói lòa ánh điện vừa được hoàn tất mở rộng cửa đón Bác vào yên nghỉ cho toàn dân thăm viếng, chiêm ngưỡng hình thể bất tử của vị cha già dân tộc đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng và độc lập dân tộc. Đến lúc này giáo sư Quyền mới thở phào nhẹ nhõm.

         Đến nay đã 26 năm kể từ ngày Bác mất, hàng đoàn người vô tận vẫn tiếp nối nhau vào Lăng viếng Bác. Trông Bác vẫn thanh thản trong giấc ngủ ngàn thu, vẫn bộ quần áo kaki bạc màu, giản di, vẫn chiếc gối trắng Bác vẫn dùng thuở nào ... . Giáo sư, bác sỹ Nguyễn Gia Quyền đã nghỉ hưu với cấp hàm đai tá sau bao năm cống hiến, làm tròn trách nhiệm của mình đối với Bác. Con trai ông là Tiến sỹ đã thay ông tiếp nối công việc cao cả nhưng thầm lặng cho các thế hệ mai sau còn được chiêm ngưỡng, gần gũi Bác - vị cha già kính yêu của dân tộc Việt nam.

Hà Nội, ngày 18 tháng 4 năm 1995

 

 

 

Bình luận

Tin tức mới

Vinashine
Vanban