THẦY TÔI - GIÁO SƯ, THẦY THUỐC NHÂN DÂN NGUYỄN NHƯ BẰNG

  24/04/2017

Nhớ lại, khi chúng tôi tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội, năm 1965, mấy anh chị em chúng tôi được phân công về nhận công tác tại Bệnh viện Việt - Đức, ai cũng vui mừng, phấn khởi vì chắc chắn sẽ được làm đúng ngành nghề đã được đào tạo vì cả 5 chúng tôi đều là sinh viên Y6 chuyên khoa Ngoại mà tôi là lớp trưởng. Nhưng niềm vui chẳng được bao lâu, khi chúng tôi trình diện Ban Giám đốc Bệnh viện để nhận phân công về các khoa, Giáo sư Nguyễn Dương Quang, Phó Giám đốc thay mặt Giáo sư Tôn Thất Tùng (lúc ấy đang đi vắng) nói rằng: “Lần này Bệnh viện nhận các anh chị về là để xây dựng các “labô” (phòng xét nghiệm) làm cơ sở cho việc triển khai các kỹ thuật mổ tim hở và ghép cơ quan (gan, tim, thận) sau này, ngoài anh Lân là cán bộ cũ của Bệnh viện cao tuổi nhất được ở Phòng khám, các anh chị còn lại sẽ vào các các khoa Sinh hóa, Huyết học, Vi sinh và Giải phẫu bệnh, chia nhau mà về”. Thấy chúng tôi ngẩn người nhìn nhau, Thầy Quang nói thêm: “Còn ai muốn làm phẫu thuật viên thì đi nơi khác”. Thế là các anh chị chia nhau Sinh hóa, Huyết học và Vi sinh, còn lại Giải phẫu bệnh tôi đành phải nhận, còn hơn là đi bệnh viện khác. Tôi cũng muốn ở lại Việt - Đức vì có nhiều Thầy giỏi và có điều kiện để học thêm.

Tôi “xách gói” về Khoa Giải phẫu bệnh, lúc đó đang đóng tại Viện Radium (tức Bệnh viện K bây giờ) ở phố Quán Sứ. Khoa chỉ có 2 Bác sỹ: Bác sĩ Nguyễn Như Bằng - Trưởng Khoa và Bác sĩ Ngô Văn Quỹ. Khi tôi về Khoa cũng là lúc Bộ Y tế có chủ trương tách Khoa Ung thư của Bệnh viện Việt - Đức thành Bệnh viện K Hà nội, như vậy Khoa Giải phẫu bệnh cũng phải chia đôi, một nửa ở lại Bệnh viện K, gồm Bác sĩ Ngô văn Quỹ và một Bác sĩ cùng lớp với tôi nhưng thuộc biên chế Bệnh viện K (sau này do bị bệnh, Bác sĩ đó phải chuyển đi nơi khác), một nửa gồm Bác sĩ Bằng và tôi cùng một bác kỹ thuật viên già về Bệnh viện Việt - Đức. Ba thầy trò chúng tôi vừa xây dựng cơ sở vừa đào tạo bác sỹ (tức là tôi) và kỹ thuật viên. Đối với tôi, Giải phẫu bệnh là một môn học vừa mới vừa khó, ngoài một số kiến thức đã được học từ năm Y3 còn lại mọi thứ đều bỡ ngỡ. Thầy Bằng đã dìu dắt tôi từ những bước chập chững đầy bở ngỡ ban đầu bằng một phương pháp vừa thiết thực vừa cơ bản. Thầy đã bắt tôi học lại Giải phẫu, Mô học và Phôi thai học trước khi học Giải phẫu bệnh. Thầy bảo, muốn biết giải phẫu bệnh, trước hết phải thuộc giải phẫu thường để phân biệt vùng lành và vùng tổn thương trên đại thể, còn với mô học để làm việc đó trên vi thể. Thầy không giảng lý thuyết mà bắt tôi đọc sách, tự học lấy sẽ nhớ lâu hơn. Sau khi biết tôi có võ vẽ biết ít tiếng Pháp và tiếng Anh nhờ học hồi còn ở Huế, Ông quẳng cho tôi mấy cuốn sách bằng tiếng Pháp của các tác giả Roussy, Masson, Policard, Langeron… viết về Giải phẫu bệnh và kỹ thuật làm tiêu bản mô học. Ban đầu, tôi thấy vô cùng khó khăn, nhưng với một cuốn từ điển Pháp -Việt cộng với có Thầy bên cạnh, chỗ nào khó quá thì hỏi Thầy. Về sau, dần dần tôi cũng vượt qua được và nhờ đó mà vốn tiếng Pháp cũng khá dần lên. Nhưng trên hết là Thầy đã truyền cho tôi lòng yêu nghề Giải phẫu bệnh. Với lòng nhiệt tình, say mê khoa học, với trình độ uyên bác, Thầy luôn là tấm gương, đã động viên tôi yên tâm công tác, say mê với công việc mình làm. Được như vậy cũng là do Thầy đã phấn đấu hết mình cho công việc và cũng đã trải qua nhiều gian nan thử thách .

Sinh năm 1924 trong một gia đình trí thức, lớn lên Thầy đã quyết tâm theo nghề Y, tốt nghiệp trường Đại học Y Dược Hà Nội năm 1952, Thầy đã bị động viên vào phục vụ trong Quân đội Viễn chinh Pháp với cương vị là Bác sỹ Quân y, đã từng bị điều đi Quảng Bình, Hưng Yên, rồi về Hà Nội để cứu chữa cho thương binh. Nhưng ở đâu Thầy cũng dành nhiều thời gian rỗi để khám chữa bệnh cho nhân dân. Năm 1954, trước khi rút khỏi miền Bắc, thực dân Pháp và Quân đội Ngụy đã ra lệnh cho Thầy rời Hà Nội vào Nam, nhưng Thầy đã bỏ trốn để ở lại miền Bắc với Bác Hồ. Sau đó, Thầy đã liên lạc được với đoàn Y tế của Giáo sư Tôn Thất Tùng từ Kháng chiến về. Giáo sư Tôn Thất Tùng vào tiếp quản Bệnh viện Phủ Doãn, Thầy Bằng được giao nhiệm vụ làm Trưởng Khoa Xét nghiệm một thời gian rồi chuyển sang làm Chủ nhiệm Khoa Giải phẫu bệnh của Bệnh viện Phủ Doãn, sau này đổi tên thành Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức, Bệnh viện Ngoại khoa đầu ngành. Với cương vị này, Thầy đã đặt nền móng xây dựng ngành Giải phẫu bệnh ngoại khoa. Khác với Giải phẫu bệnh ở các ngành khác, ở ngành Ngoại khoa, các sinh thiết đa số là những bệnh phẫm cắt bỏ, vì vậy, việc “nhận xét bệnh phẩm” về mặt đại thể là rất quan trọng. Thầy thường dạy bảo chúng tôi phải hết sức chú ý nhận xét, mô tả về màu sắc, mật độ, cân đo, vẽ sơ đồ và chụp ảnh các bệnh phẩm trước khi cắt, “trích thủ” để làm vi thể, Có như vậy mới tránh khỏi sai lầm khi chẩn đoán và thông báo lại cho phẫu thuật viên rút kinh nghiệm. Những bệnh phẩm “đẹp”, có những tổn thương điển hình, Thầy giữ lại làm tiêu bản đại thể dùng để dạy học. Có thể nói, Khoa Giải phẫu bệnh do Thầy Bằng làm Chủ nhiệm là nơi có một bộ sưu tập phong phú về các bệnh phẩm, Thầy rất nâng niu những lọ bệnh phẩm này, thường xuyên bổ sung hoặc thay dung dịch bảo quản để cho dễ nhìn. Chính những bệnh phẩm này đã thu hút không những các Bác sỹ Giải phẫu bệnh mà cả các Phẫu thuật viên, vì nhờ đó mà họ đánh giá được tổn thương trong lúc mổ để cắt bỏ cho đúng và đủ. Qua nhận xét đại thể bệnh phẩm, Bác sỹ Giải phẫu bệnh ngoại khoa còn phải kiểm tra xem phẫu thuật viên có lấy đúng, lấy đủ không. Muốn làm được việc đó, Bác sỹ Giải phẫu bệnh phải học cả lâm sàng, cách thức phẫu thuật các bệnh. Thầy đã tổ chức thường xuyên, hàng tuần có những buổi đối chiếu giữa giải phẫu bệnh - lâm sàng, mời các phẫu thuật viên đến Khoa Giải phẫu bệnh để trao đổi, thảo luận, tìm ra chẩn đoán chính xác nhất cho các bệnh và cái chính, rất bổ ích là học hỏi lẫn nhau, làm cho giải phẫu bệnh và lâm sàng gần nhau hơn, hiểu nhau hơn, Giáo sư Tôn Thất Tùng rất hoan nghênh cách làm này và chính Giáo sư thỉnh thoảng cũng tham gia các buổi hội chẩn hoặc sau khi mổ xong, tự mình cầm lấy bệnh phẩm lên để xem cùng với Thầy Bằng. Việc đối chiếu giải phẫu bệnh - lâm sàng còn được thể hiện rõ trong công tác khám nghiệm tử thi y học. Hồi đó, ở Bệnh viện Việt - Đức hầu như 100% bệnh nhân tử vong trong Bệnh viện đều được khám nghiệm tử thi để tìm ra các tổn thương cũng như nguyên nhân chết để rút kinh nghiệm cho lâm sàng điều trị những bệnh nhân khác có kết quả hơn. Đặc biệt, trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, khi giặc Mỹ mở rộng ném bom ồ ạt xuống miền Bắc và Thủ đô Hà Nội, mổ tử thi còn thêm một nhiệm vụ nữa là khai thác các tổn thương để tố cáo tội ác của giặc Mỹ, nhất là các tổn thương do bom bi. Vì vậy, cũng như GS Tôn thất Tùng, Thầy Bằng cũng không đi sơ tán mà bám trụ tại Bệnh viện, ngày đêm trực chiến. Thầy Bằng đã được GS Tôn Thất Tùng tín nhiệm vì  nhiều đóng góp cho công tác điều trị, cho các công trình nghiên cứu khoa học do GS Tôn Thất Tùng và các Giáo sư khác chủ trì. Với tính cẩn thận, tỉ mỉ, nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học mà Thầy Bằng cùng với Thầy Trương Cam Cống đã tìm ra được tổn thương tụ máu dưới bao gan trong bệnh sỏi mật (hématome sous capsulaire) mà sau này được Giáo sư Tùng đặt tên là bệnh gan vùng nhiệt đới (maladie hépatique tropicale) đăng trong “Bách khoa toàn thư về phẫu thuật” (Encyclopedy chirurgicale) của Pháp. Chính nơi đây, tại Khoa Giải phẫu bệnh này, Thầy Tùng đã miệt mài phẫu tích gan để cho ra phương pháp mổ gan khô nổi tiếng thế giới mà Thầy Tùng đã đi báo cáo ở nhiều nước và được nhiều chuyên gia ở các nước như Pháp, Ý, Nga, Đức… đến Bệnh viện Việt Đức để học tập phương pháp này. Thầy Bằng đã làm tốt nhiệm vụ của chuyên ngành ở một Bệnh viện Ngoại khoa đầu ngành, tìm ra những chẩn đoán chính xác giúp cho các đồng nghiệp hoàn thành nhiệm vụ trị bệnh cứu người và nâng cao trình độ chẩn đoán để làm tốt công việc chăm lo sức khỏe của  nhân dân. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà Thầy Tùng luôn “bắt” Thầy Bằng phải làm trọng tài trong các cuộc tranh luận về chẩn đoán bệnh và Giải phẫu bệnh hàng ngày phải ngồi ở hàng ghế đầu trong các buổi giao ban chuyên môn ở Bệnh viện.

 

Từ trái sang: GS Tôn Thất Tùng, GS Nguyễn Như Bằng, GS Nguyễn Xuân Ty tiếp GS Orcel ( Pháp) (4/1977).


 

Là Chủ tịch Hôi Giải phẫu bệnh - Y pháp học Việt Nam trong nhiều năm, Giáo sư Nguyễn Như Bằng đã luôn chăm lo xây dựng ngành Giải phẫu bệnh và Y pháp. Chính Thầy đã cùng GS Tôn thất Tùng, GS Vi Huyền Trác và GS Orcel ở Paris và sau là GS Oppermann ở Besanson đã xây dựng chương trình hợp tác Việt - Pháp về Giải phẫu bệnh. Chương trình này đã kéo dài được nhiều năm và đã đưa được nhiều cán bộ chủ chốt của ngành sang tu nghiệp ở Pháp hàng năm để về xây dựng bộ khung của ngành như Vi Huyền Trác, Nguyễn Như Bằng, Trần Phương Hạnh, Nguyễn Vượng, Ngô Thu thoa, Lê Đình Roanh…, cũng như đón các Giáo sư và Kỹ thuật viên người Pháp sang giúp ngành Giải phẫu bệnh của Việt Nam. Nhờ đó mà ngành Giải phẫu bệnh của Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng.

Từ trái sang: PGS Nguyễn Phúc Cương, PGS Trần Văn Liễu, GS Tôn Thất Tùng, GS Orcel,

GS Nguyễn Như Bằng, GS Nguyễn Vượng, BS Đặng Văn Quế, TS Đinh Gia Đức

Nói đến đóng góp của Giaos sư Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Như Bằng, không thể không nói đến những đóng góp to lớn của Thầy trong công cuộc xây dựng ngành Pháp y học Việt Nam. Có thể nói, Thầy đã giành nhiều tâm huyết cho ngành này. Thầy thường tâm sự, ngay khi còn là sinh viên trường Đại học Y Dược Hà Nội, Thầy đã được Thầy Vũ Công Hòe và Thầy Trương Cam Cống trang bị cho những kiến thức đầu tiên về Pháp y cùng niềm say mê học hỏi chuyên ngành này cho nên khi nhận làm công tác Giải phẫu bệnh ở Bệnh viện Phủ Doãn, cùng với sự dìu dắt của Thầy Cống, Thầy đã tham gia làm Pháp y cho Thành phố Hà Nội và sau này cho cả các tỉnh trên miền Bắc. Không thể kể hết những gian khổ, khó khăn của công tác Pháp y thời đó, nhất là phương tiện đi lại, có khi đi bộ, đi xe đạp, nếu làm ở các tỉnh xa còn phải trèo đèo lội suối trong rừng, không kể giờ giấc, thời tiết. Nhưng cũng thật phấn khởi, vui mừng khi tìm ra được sự thật đằng sau các vụ án để minh oan cho những người bị nghi ngờ hoặc không bỏ sót tội phạm. Bằng sự say mê, nhiệt tình, lòng trung thực và tận tụy của mình, Thầy Bằng đã giúp cơ quan điều tra khám phá hàng trăm vụ án phức tạp, trong đó có những vụ trọng án vô cùng khó khăn như vụ V.A.K. (tên viết tắt của nạn nhân), vụ Phạm Đình Hồ (tên đường phố nơi xảy ra vụ án) hay vụ Lâm Đồng - Đà Lạt…

Song song với việc đóng góp cho công tác điều tra, Thầy Bằng luôn luôn quan tâm đào tạo các thế hệ trẻ. Ngay từ năm 1976, Thầy đã tham gia đào tạo 8 bác sỹ chuyên khoa Pháp y đầu tiên của trường Đại học Y Hà Nội, đến năm 1983, Tổ Bộ môn Pháp y trong Bộ môn Giải phẫu bệnh của Trường được tách ra để thành lập Bộ môn Y Pháp của Trường Đại học Y Hà nội, Thầy được Nhà trường mời làm Chủ nhiệm Bộ môn đầu tiên. Với trách nhiệm mới, nặng nề và hết lòng với giới trẻ, Thầy đã tự mày mò tìm sách vở, tài liệu tham khảo cộng với bề dày kiến thức và kinh nghiệm đã được tích lũy, Thầy soạn giáo án để giảng dạy. Những bài giảng phong phú về nội dung, súc tích về câu chữ là tập giáo án đầu tiên và duy nhất dùng để giảng dạy cho sinh viên, sau này chính là nền tảng của Tập Bài giảng Y pháp đã được xuất bản (hiện gia đình Thầy còn giữ tập bản thảo đó và xin xem thêm bài “Một chuyện buồn ở một trường Đại học” của nhóm Phóng viên báo Dân trí Việt báo online, thứ ba, ngày 23 tháng 5 năm 2006). Vừa là Trưởng Khoa Giải phẫu bệnh của Bệnh viện, vừa là Trưởng Bộ môn Y Pháp của Trường Đại học nên Thầy đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn và gắn bó hai chuyên khoa này. Thầy thường dạy anh em chúng tôi, Y Pháp phải biết cả Giải phẫu bệnh mới mong chẩn đoán được chính xác các vụ án. Cùng với việc giảng dạy kiến thức Pháp y, Thầy còn chăm lo xây dựng ngành Pháp y trong toàn quốc, từ việc đề nghị Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra nghị định 117/HĐBT về Giám định tư pháp, trong đó có Giám định Pháp y (ngày 21/7/1988) đến việc Bộ Y tế ra quyết định 64/BYT-QĐ ngày 18/12/1989 về bổ nhiệm Giám định viên. Ngày 30/11/1990, Bộ Y tế ra quyết định thành lập 

Tổ chức giám định Pháp y Trung ương (tiền thân của Viện Y pháp Quốc gia sau này) do Thầy Bằng làm Giám định viên trưởng và Tổ chức Giams định Pháp y các tỉnh (nay gọi là Trung tâm Y pháp của tỉnh) có trụ sở và kinh phí hoạt động hàng năm. Đó là những bước tiến rất dài từ khi ngành Pháp y còn rất nhỏ bé. Với cương vị mới, Thầy tiếp tục hăng say giảng dạy, đào tạo và xây dựng ngành. Những lớp tập huấn Y pháp cho giám định viên các tỉnh từ Bắc chí Nam liên tục được mở ra, Thầy Bằng cùng các cộng sự trong Tổ chức Y pháp Trung ương luôn đi sâu đi sát, cầm tay chỉ việc, đã đào tạo nên một đội ngũ đông đảo các Giám định viên cho các tỉnh, giúp đỡ đắc lực cho cơ quan điều tra khám phá nhiều vụ án, góp phần bảo vệ an ninh và an toàn xã hội.

Thay lời kết cho bài viết này, tôi xin mượn lời kết chính xác và cô đọng của nhà báo Trần Giữu: “Thầy thuốc Nhân dân, GS Nguyễn Như Bằng có 88 tuổi đời, gần 60 năm hoạt động và cống hiến, luôn được đồng nghiệp trong nước mến mộ, tôn vinh, được nhiều  nhà khoa học ở Pháp, Đức biết đến và khâm phục. GS Nguyễn Như Bằng có cuộc sống chân thành, luôn trung thực và thẳng thắn, luôn khiêm tốn và giản dị, luôn lắng nghe mọi người vì công việc, vui vẻ cởi mở, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ đồng nghiệp và học trò với cái tâm trong sáng và bao dung. GS Nguyễn Như Bằng, một Thầy thuốc đức độ, một Nhà giáo tâm huyết và mẫu mực.

GS Nguyễn Như Bằng đã từ trần ngày 24/12/2012, thọ 88 tuổi. Đông đảo đồng nghiệp và học trò đã dự tang lễ và tiễn đưa Giáo sư ngày 26/12/2012.”

Hà Nội, ngày 01/7/2014

PGS.TS. Thầy thuốc Nhân dân

Nguyễn Phúc Cương

Nguyên Trưởng Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Việt - Đức

Bình luận

Tin tức mới

Vinashine
Vanban