Lịch sử phát triển của hội

  17/04/2017

LỊCH SỬ HỘI GIẢI PHẪU BỆNH - TẾ BÀO BỆNH HỌC VIỆT NAM

 

1. MỞ ĐẦU

Quá trình lịch sử hình thành và phát triển của Hội Giải phẫu bệnh - Tế bào bệnh học Việt Nam (GPB-TBBH VN) bắt đầu từ năm 1937, khi Nhà Giáo Nhân dân, GS.BS. Vũ Công Hoè tốt nghiệp Bác sĩ (BS) Y khoa với Luận án “Về sự tự tử trong xã hội An Nam” (tên gọi của Nước Việt Nam thời đó) và được phân công phụ trách cả Bộ môn Giải phẫu bệnh (GPB) của Trường Đại học Y Dược Hà Nội và Khoa GPB - Bệnh viện Bạch Mai. Thời kỳ đó, hai chuyên ngành GPB và Y pháp học gắn bó mật thiết với nhau vì đa số các BS GPB, đặc biệt ở các tỉnh, đều kiêm nhiệm cả việc giám định y pháp.

Cùng với xu thế phát triển chung của các chuyên khoa sâu trên phạm vi toàn cầu cũng như ở Việt Nam, GPB và Y pháp học ngày càng có những hoạt động đặc thù riêng. Viện GPB nằm trong Bệnh viện Bạch Mai đã được Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch ký quyết định cho phép thành lập từ 1964, song trong quá trình thiết kế, thi công có sự nhầm lẫn phải làm lại, rồi chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ đã làm đảo lộn tất cả. Cho đến gần đây, ngày 14/2/2005, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết định thành lập Trung tâm Giải phẫu bệnh - Tế bào bệnh học (GPB-TBBH) tại Bệnh viện Bạch Mai, trong khi Viện Y học Tư pháp (gọi tắt là Viện Y pháp) cũng đã được Bộ trưởng Bộ Y tế ký quyết định thành lập từ ngày 11/01/2001.

Đến thời điểm này, một Hội chung cho cả 2 chuyên ngành GPB và Y pháp học đã không còn thích hợp nữa. Vì thế, tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III tổ chức tại Hà Nội ngày 04/10/2002 đã biểu quyết nhất trí 100% đề nghị tách Hội GPB - Y pháp học Việt Nam thành 2 hội riêng: Hội GPB-TBBH VN và Hội Y pháp học Việt Nam. Hơn 04 tháng sau đó, ngày 21/2/2005, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Quang Trung đã ký quyết định số 238/QĐ-BNV cho phép chia tách Hội GPB - Y pháp học Việt Nam thành Hội Pháp y học Việt Nam và Hội GPB-TBBH VN; tiếp theo là quyết định số 4151/QĐ-BYT ngày 05/11/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế, do Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuyên ký thay, công nhận Ban vận động thành lập Hội GPB-TBBH VN.

Ngày 12/5/2006, Đại hội thành lập Hội GPB-TBBH VN được tổ chức tại Trường Đại học Y Hà Nội đã bầu ra Ban chấp hành gồm 39 người do GS.TS Nguyễn Vượng làm Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch là PGS.TS Ngô Thu Thoa và GS.TS Nguyễn Sào Trung, PGS.TS Nguyễn Phúc Cương làm Trưởng Ban kiểm tra, PGS.TS Trần Văn Hợp làm Tổng thư ký, ThS Lê Trung Thọ làm Phó Tổng thư ký. Ban Chấp hành Hội đã được Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam, GS.VS. Phạm Song ký quyết định công nhận số 76/THYH ngày 17/8/2006.

Điều lệ Hội GPB-TBBH VN được Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt tại quyết định số 1003/QĐ-BNV ngày 10/7/2006 (do Thứ trưởng Đặng Quốc Tiến ký thay).

2. BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA HỘI

Có thể coi chuyên ngành GPB - Y pháp ra đời từ năm 1937, song mãi tới 1954, sau ngày giải phóng miền Bắc, một số cơ sở GPB được hình thành trước đây ở Hà Nội và một số tỉnh như Hải Phòng, Nam Định, Hà Đông mới thực sự hoạt động và phát triển. Bên cạnh việc phát triển Khoa học kỹ thuật thì nhiệm vụ cấp bách, quan trọng hàng đầu là đào tạo cán bộ để có thể đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ tại Bệnh viện tỉnh với hàng trăm giường. Vì thế, đã hình thành 4 Bộ môn GPB tại Trường Đại học Y Dược Hà Nội, Học viện Quân y, các phân hiệu Đại học Y Thái Nguyên và Đại học Y Thái Bình.

Đặc biệt, sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đã hình thành một hệ thống cơ sở GPB-TBBH ở cả 3 miền, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh và có thêm 2 bộ môn GPB nữa ở phân hiệu Đại học Y Dược Huế và Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Ở Hà Nội, chỉ trong vòng 15 năm (1960 - 1975), Bộ môn GPB - Đại học Y Hà Nội và Khoa GPB-TBBH của Bệnh viện Bạch Mai đã đào tạo được hàng trăm BS chuyên khoa GPB (một số người đã được học thêm ở Liên Xô, Pháp, Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungari...), hình thành được 4 nội dung hoạt động cơ bản của Ngành GPB hiện đại: GPB giải phẫu, GPB ngoại khoa, GPB lâm sàng và GPB thực nghiệm. Đặc biệt, năm 1972, Phòng Chẩn đoán Tế bào học qua chọc hút kim nhỏ đầu tiên tại Việt Nam (khi ấy gọi là Phòng xét nghiệm u đồ) đã chính thức được thành lập tại Khoa GPB - Bệnh viện Bạch Mai, và năm 1975 Phân môn Chẩn đoán Tế bào học tại Bộ môn GPB - Đại học Y Dược Hà Nội ra đời. Trong khoảng thời gian đó, sự hình thành và phát triển của GPB học ở phía Nam hầu như chỉ tập trung vào 8 cơ sở của TP. Hồ Chí Minh với những kỹ thuật xét nghiêm mô bệnh học thường quy và chỉ xét nghiệm tế bào học bong, không làm chọc hút kim nhỏ. Công tác giám định y pháp chủ yếu do các BS chuyên khoa GPB kiêm nhiệm. Năm 1959 mới có quyết định thành lập Bộ môn Y pháp đầu tiên của Việt Nam tại Trường Đại học Y Dược Khoa Hà Nội. BS Nguyễn Văn Hùng (Bộ Công an), các BS Vũ Ngọc Thụ, Nguyễn Hữu Thiện (Quân đội) sau khi học sơ bộ kiến thức GPB 6 tháng tại Bệnh viện Bạch Mai, lần lượt được cử đi học tại Đức (từ 1960) và Liên Xô (từ 1962) về Y pháp để về xây dựng Ngành Y pháp cho Công an và Quân đội. Tới năm 1978, số cơ sở GPB và đội ngũ BS, kỹ thuật viên (KTV) chuyên khoa GPB đã phát triển tới độ chín muồi cho việc thành lập Hội.

3. ĐẠI HỘI LẦN THỨ NHẤT CỦA HỘI GIẢI PHẪU BỆNH - Y PHÁP HỌC VIỆT NAM (29/11/1978)

Được Bộ trưởng Phủ Thủ tướng quyết định cho phép thành lập Hội, ngày 29/11/1978, Đại hội toàn quốc lần thứ nhất thành lập Hội GPB - Y pháp học Việt Nam đã được tổ chức trọng thể tại Hội trường lớn của Bệnh viện Bạch Mai. Về dự Đại hội, có 282 đại biểu (130 BS, 152 y sĩ, KTV trung cấp) bao gồm 153 người ở trung ương, 129 người ở địa phương, trong số đó có 236 đại biểu miền Bắc, 16 ở miền Trung, 30 ở miền Nam, 234 dân y, 48 quân y và công an.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khoá I gồm 25 uỷ viên với 9 Uỷ viên Thường vụ, do GS. Vũ Công Hoè làm Chủ tịch, BS. Nguyễn Vượng là Tổng thư ký. Ban chấp hành cũng thành lập 3 tiểu ban: Tổ chức - Tài chính - Chế độ chính sách, Đối ngoại - Khoa học kỹ thuật, Xuất bản - báo chí - tuyên truyền, do 3 BS Phó Chủ tịch Hội phụ trách, lần lượt theo trình tự: Nguyễn Gia Quyền, Vi Huyền Trác, Nguyễn Như Bằng. Tiếng nói về khoa học - kỹ thuật của Hội là Nội san GPB - Y pháp với Ban biên tập gồm 10 người do GS. Vũ công Hoè làm chủ nhiệm, BS Nguyễn Như Bằng làm Tổng biên tập và BS Nguyễn Vượng là Thư ký Ban biên tập.

Toàn chuyên ngành đã công bố được 652 công trình nghiên cứu khoa học và bài báo, ở thời gian đó thường xếp vào 17 nhóm bệnh theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới. Từ năm 1954 - 1970 (16 năm), Hội nghị khoa học lần thứ nhất của toàn chuyên khoa chỉ tập hợp được 308 công trình, bài báo nhưng chỉ 8 năm sau (1971-1978) số lượng này đã vượt hẳn 16 năm trước (344 công trình). Đáng chú ý là Bộ môn và Khoa đầu ngành đã đóng góp 50,76% tổng số công trình nêu trên (331 công trình).

4. ĐẠI HỘI LẦN THỨ II HỘI GIẢI PHẪU BỆNH - Y PHÁP HỌC VIỆT NAM (9/11/1996)

Sau 18 năm thành lập, cũng gần giống một số Hội chuyên khoa Trung ương trong Tổng Hội Y Dược học Việt Nam, Hội GPB - Y pháp học Việt Nam mới tổ chức được Đại hội toàn quốc lần thứ II vào ngày 9/11/1996 tại Trường Đại học Y Hà Nội. Về dự Đại hội có các đại biểu từ tất cả 52 tỉnh, thành trong cả nước. Đại hội được nghe các ý kiến phát biểu của GS. Hoàng Đình Cầu, Chủ tịch Tổng Hội Y Dược học Việt Nam, GS. Đỗ Nguyên Phương - Bộ trưởng Bộ Y tế, GS. Nguyễn Hữu Tăng - Phó ban Khoa giáo Trung ương; thư chào mừng của GS. Nguyễn Trọng Nhân - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Đại hội đã thông qua Báo cáo tổng kết công tác của Ban chấp hành Hội nhiệm kỳ thứ nhất, Dự thảo đề án công tác Hội nhiệm kỳ 1996-2001, Điều lệ Hội sửa đổi và Nghị quyết của Đại hội. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành gồm 35 người với 11 Uỷ viên Thường vụ, trong đó GS. Nguyễn Như Bằng là Chủ tịch và 4 Phó Chủ tịch: GS.TS. Nguyễn Vượng (kiêm Tổng thư ký), PGS. Trần Phương Hạnh, PGS.TS. Nguyễn Phúc Cương và PGS.TS. Trần Văn Liễu. Hội nghị Ban chấp hành khoá II cũng đề cử Ban biên tập Nội san GPB - Y pháp học Việt Nam gồm 7 người, trong đó GS.TS. Nguyễn Vượng là Tổng biên tập và BSCKII Đặng Thế Chân là Thư ký Ban biên tập. Giữa nhiệm kỳ, Hội nghị Ban Chấp hành Hội đã bầu bổ sung 3 Uỷ viên Ban chấp hành: PGS.TS. Lê Đình Hoè, ThS. Lê Trung Thọ và Cử nhân Đỗ Thị Thái. Đại hội đã nhận được sự ủng hộ quý báu từ 78 cơ quan, cơ sở và cá nhân trong cả nước. Ngoài khó khăn chung là đất nước chuyển từ thời kỳ bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN còn rất mới mẻ với mọi chuyên ngành. Tuy nhiên, Hội vẫn đứng vững. Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Hội đã thống nhất đánh giá những thành tựu cơ bản của hoạt động Hội trong 18 năm nhiệm kỳ I như sau:

- Công tác tổ chức, phát triển cơ sở, hội viên: Hệ thống cơ sở Bộ môn Giải phẫu bệnh từ 6 đã tăng thêm 3 (1 ở phân hiệu Đại học Y Hải Phòng, 1 ở phân hiệu Đại học Y Tây Nguyên và 1 ở Đại học Cần Thơ). Trên cơ sở động viên các hội viên học tập và phối hợp với các Bộ môn, toàn ngành đã có gần 600 hội viên với hơn 280 BS, BSCKI, BSCKII, TS, ThS, PGS, GS và gần 300 kỹ thuật viên trung, cao cấp (có một số là cử nhân, kỹ sư, ThS). Khoảng gần 90% số BS GPB có học vị trên đại học là một nỗ lực của toàn chuyên ngành trong đó có sự đóng góp tích cực của Hội và theo thống kê chưa đầy đủ, họ hoạt động ở 87 cơ sở trong cả nước, tuy vẫn còn “nạn trắng” ở 20 tỉnh về cơ sở GPB, chủ yếu là các tỉnh miền núi.

- Công tác tư vấn, phản biện giám định xã hội về khoa học công nghệ: Hội đã có nhiều đóng góp với các cấp có thẩm quyền về nhiều lĩnh vực khác nhau về chế độ, chính sách, về Từ điển bách khoa, về hành nghề y dược tư, về công tác khám nghiệm tử thi và điểm 5, điểm 32 Bộ Luật dân sự, về ghép mô tạng, về chế độ ưu đãi đặc thù nghề nghiệp, về định hướng phát triển của chuyên ngành và Hội theo tinh thần nghị quyết II của Ban Chấp hành Trung ương Đảng..., trong đó không ít vấn đề đã được các cơ quan có thẩm quyền tiếp thu và có nhiều vấn đề đã được giải quyết toàn phần hay từng phần hoặc tiếp tục xem xét để giải quyết.

- Công tác khoa học, kỹ thuật: Công tác này gắn liền với công tác xuất bản, báo chí, tuyên truyền nhằm phát huy thành quả lao động nghiên cứu khoa học, kỹ thuật. Truyền thống của Hội là luôn luôn gắn hoạt động này với các Bộ môn và Khoa, điển hình ở Hà Nội là Bộ môn GPB và Khoa GPB - Bệnh viện Bạch Mai, ở TP. Hồ Chí Minh là Bộ môn GPB và Trung tâm Ung bướu v.v... đồng thời quan hệ mật thiết với nhiều Hội chuyên khoa bạn như: Ung thư, Nội, Ngoại khoa, Lao và bệnh phổi, Cơ xương khớp, Miễn dịch dị ứng lâm sàng, Nội tiết đái tháo đường, Tiêu hoá...

Hội đã tổ chức được hàng trăm buổi sinh hoạt khoa học và hội chẩn hàng năm và các hội nghị khoa học miền, thường 2-5 năm một lần, chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, và từ năm 1978-1996 đã hoàn thành thêm hơn 1.000 công trình nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và/ hoặc báo cáo khoa học chuyên đề, chủ trì hoặc tham gia 4 đề tài cấp Nhà nước (về nước chấm, ung thư phổi, ghép thận, vacxin...) và 8 đề tài cấp Bộ (về chọc hút kim nhỏ, về bệnh tuyến giáp, quét hút tế bào trong chẩn đoán bệnh đường tiêu hoá, ung thư mũi họng, chẩn đoán xơ vữa động mạch qua sinh thiết da, phát hiện ký sinh trùng sốt rét qua nhuộm sống, thực nghiệm tổn thương trên súc vật, dùng thuốc cai nghiện, sử dụng vacxin...). Nhiều trong những đề tài này đã được cấp bằng khen, tiền thưởng cấp Nhà nước, cấp Bộ, trong đó có 3 bằng lao động sáng tạo.

- Công tác xuất bản báo chí, tuyên truyền: Từ sau khi thành lập Hội đến 1992, Hội ra báo đều, nhưng sau đó Bộ văn hoá hạn chế việc cấp phép xuất bản phần lớn các Nội san của Tổng Hội Y Dược học Việt Nam, các công trình thuộc chuyên khoa phải chuyển đăng tải ở các kỷ yếu công trình, báo của các Hội bạn, đặc biệt các số chuyên đề của Y học Việt Nam hoặc Y học thực hành nhân dịp các hội nghị khoa học miền hoặc toàn quốc. Các công trình ở khu vực phía Nam và một phần ở miền Trung, miền Bắc còn được đăng trên Tạp chí Hình thái học và Y học TP. Hồ Chí Minh. Công tác khoa học kỹ thuật và xuất bản báo chí, tuyên truyền một mặt nào đó đã đạt hiệu quả thiết thực là góp phần đào tạo sau đại học cho hơn 150 BSCKI, BSCKII, ThS, TS cũng như PGS, GS của chuyên ngành.

Tóm lại, trong nhiệm kỳ II, Hội đã hoàn thành đầy đủ, có mặt vượt mức những chỉ tiêu công tác do Đại hội đã đề ra song trên thực tế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của chuyên ngành, nhiều cơ sở lại còn bị xuống cấp về trang thiết bị và chỉ làm xét nghiệm tế bào học.

5. ĐẠI HỘI LẦN THỨ III CỦA HỘI GIẢI PHẪU BỆNH - Y PHÁP HỌC VIỆT NAM (4/10/2002) VÀ HOẠT ĐỘNG SAU ĐẠI HỘI

Do Trường Đại học Y Hà Nội kỷ niệm 100 năm ngày ra đời, Bộ môn và Hội kỷ niệm 65 năm ngày thành lập, Tổng hội Y Dược học Việt Nam đã cho phép Hội kéo dài nhiệm kỳ thêm 1 năm, và ngày 04/10/2002, Đại hội lần thứ III của Hội GPB - Y pháp học Việt Nam đã được tổ chức tại Trường Đại học Y Hà Nội. Về dự Đại hội có trên 500 đại biểu và khách mời. Nhân dịp này, các Đại biểu, Hội viên đã được nghe lời phát biểu của Bộ trưởng Bộ Y tế - PGS.TS. Trần Thị Trung Chiến, Chủ tịch danh dự Tổng hội Y Dược học Việt Nam - GS. Hoàng Đình Cầu và Chủ tịch đương nhiệm - GS. Đặng Đức Trạch.

Đại hội đã thống nhất đánh giá những hoạt động chính của Hội trong nhiệm kỳ II (1996 - 2002) như sau :

- Công tác tổ chức (phát triển cơ sở, hội viên): Cơ chế thị trường và những phúc lợi hạn hẹp của Ngành GPB-TBBH đã khiến chuyên ngành chỉ có đầu ra (hội viên mất, về hưu), hầu như không có đầu vào. Hội có sáng kiến cùng Bộ môn và Khoa đầu ngành cho đào tạo BS định hướng chuyên khoa (được Bộ chấp nhận và trở thành chủ trương chung). Kể từ khi thành lập Hội tới năm 2002, toàn chuyên Khoa đã đào tạo được gần 900 BS và KTV, song số hội viên mất sức, từ trần, về hưu, chuyển ngành khá lớn, số đương chức chỉ còn 282 GS, PGS, TS, ThS, BSCKI, BSCKII và 276 KTV trung cấp, cao cấp, nghĩa là khoảng 280.000 dân mới có 1 BS, 1 KTV GPB, vừa mất cân đối rõ so với các chuyên ngành bạn tại Việt Nam và chỉ bằng 1/300 so với tỷ lệ tương ứng ở Mỹ. Từ sau Đại hội III, số lượng mới được đào tạo trong phạm vi cả nước không quá 50. Đội ngũ cán bộ chất lượng cao đương chức chưa bảo đảm tính kế thừa; cả nước chỉ còn 1/5 số GS, 7/14 PGS; ở 9 Bộ môn của Trường Đại học và Phân hiệu Đại học, ngoài Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh có GS và/ hoặc PGS, 4 Bộ môn có TS GPB phụ trách còn ở Đại học Y Huế và Thái Bình, trưởng Bộ môn chỉ là ThS hoặc BSCKI, thậm chí ở Đại học Cần Thơ chưa có TS về GPB.

Hội đã cùng với chính quyền cố gắng xoá nạn trắng GPB trong phạm vi cả nước, đã phủ kín được hầu khắp các tỉnh miền Bắc, chỉ còn 5 tỉnh miền Nam nhưng sau hai lần tách tỉnh, cả nước có 64 tỉnh, thành phố thì số tỉnh “trắng về GPB” lại lên con số 8 và do Hội GPB - Y pháp học Việt Nam chưa được tách thành 2 Hội nên thông tin 2 chiều giữa 2 Hội và giữa Trung ương với địa phương cũng bị hạn chế nhiều.

- Công tác tư vấn, phản biện giám định xã hội về khoa học công nghệ: Hội đã đóng góp bằng văn bản và phát biểu nhiều ý kiến về các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ 9 (2001), được Đảng tiếp thu nhiều ý kiến; góp ý kiến cũng bằng văn bản về định hướng khoa học công nghệ tới 2020, về khả năng chẩn đoán bệnh chính xác của ngành y; về mối quan hệ giữa phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị, về Từ điển bách khoa chuyên ngành; về nâng cấp các cơ sở GPB và chế độ kiểm tra bắt buộc về mô bệnh - tế bào; về chế độ hội chẩn; về chế độ hưu đối với trí thức trình độ cao; về Nhà nước quản lý Hội; Hội đã cùng lãnh đạo Khoa GPB - Bệnh viện Bạch Mai xây dựng đề án thành lập Trung tâm GPB-TBBH thuộc Bệnh viện Bạch Mai và đã được Bộ trưởng phê duyệt v.v...

- Công tác khoa học kỹ thuật và xuất bản báo chí, tuyên truyền: Ở miền Bắc, Hội phối hợp với Bộ môn, Khoa thường xuyên tổ chức các cuộc sinh hoạt khoa học và hội chẩn thường kỳ, 2 hội nghị khoa học miền và một hội nghị khoa học toàn quốc, tham gia nhiều hội nghị khoa học của các Hội bạn. Đặc biệt, Hội đã tổ chức Hội nghị khoa học chào mừng Hội nghị Masean lần thứ 9. GS.TS. Nguyễn Vượng được bầu vào Ban chấp hành Hội Y học các nước Đông Nam Á (Masean). Ở miền Nam, các hội viên GPB ở TP. Hồ Chí Minh đã thường xuyên tổ chức được các hội nghị bàn tròn về GPB trong các hội nghị ung thư mở rộng (mang tính quốc tế). Hàng năm, từ 1997 đến 2004, Hội còn tham gia tích cực vào các hội nghị, hội thảo lớn về Dioxin, các hội nghị khoa học tuổi trẻ…

Không kể những bài báo được đăng ở các báo bạn, Hội đã đăng được trên 100 bài báo dưới dạng chuyên đề của Tổng hội Y học Việt Nam, Thông tin y học của Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Bạch Mai, Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh… Hội đã có tất cả các bài của hội nghị bàn tròn và đóng góp cộng tác, phối hợp trong hàng loạt đề tài khác, đặc biệt trong chẩn đoán ung thư. Đã thực hiện thêm 4 đề tài cấp Bộ: GPB u phổi ác tính ở trẻ em; phát hiện sớm dị sản, loạn sản trong dạ dày sau diệt HP; lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị viêm dạ dày của trẻ em liên quan HP; áp dụng hoá mô miễn dịch trong chẩn đoán (đã nghiệm thu và tất cả đều đạt từ khá đến xuất sắc). Về đề tài cấp Nhà nước, đã nghiệm thu thêm 3 đề tài: Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung qua sàng lọc tế bào học (xuất sắc); Tổn thương trong chất độc yperit có hay không xử trí ngoại khoa; Ảnh hưởng bổ sung chất sắt đến nồng độ Hb máu, cân nặng trẻ sơ sinh... Tuy chỉ có 29 cơ sở báo cáo về nghiên cứu khoa học, cho tới 2002, số lượng đề tài về GPB đã hoàn thành lên tới con số 626, trong đó quá nửa số đề tài này là thuộc 2 cơ sở GPB của Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Như vậy, qua 3 kỳ đại hội, số lượng đề tài càng ngày càng tăng không chỉ ở số lượng tuyệt đối mà còn tăng bình quân hàng năm với chất lượng cao hơn, đa dạng hơn. Đặc biệt, nhờ độ chính xác của tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán, hàng trăm luận án TS, ThS đã sử dụng GPB như một cứu cánh không thể thiếu. Nhiều bệnh phổ biến đã được nghiên cứu triển khai trên diện rộng đã đành nhưng cũng có những bệnh vô cùng hiếm gặp trên phạm vi toàn cầu như ung thư mũi họng ở trẻ 12 ngày, ung thư biểu mô màng đệm ở bệnh nhi 3 tháng, ung thư tuyến yên di căn phổi… cũng đã được chuyên ngành phát hiện, đăng trên các báo của Hội, Tổng hội Y Dược học Việt Nam. Sự phát triển của kỹ thuật chọc hút tế bào bằng kim nhỏ từ Bệnh viện Bạch Mai sang các tỉnh miền Bắc, miền Trung và phía Nam, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh đã được các nhà khoa học Mỹ đánh giá cao qua một số bài báo.

Các kỹ thuật hoá mô miễn dịch tuy triển khai chưa lâu nhưng đã chứng tỏ sức sống và khả năng phát triển không hạn chế trong tương lai. Hướng nghiên cứu thực nghiệm là đầy triển vọng, kể cả các nghiên cứu liên quan đến ghép mô tạng.

Vấn đề tồn tại lớn là 2 Hội chưa được tách riêng để hoạt động độc lập và sự nhìn nhận của các cấp lãnh đạo đối với chuyên ngành còn chưa thoả đáng. Dẫu sao, trong lịch sử của Tổng Hội Y Dược học Việt Nam cũng có một dấu ấn đậm nét của Hội GPB-TBBH.

Hội và 10 cá nhân trong Ban chấp hành đã được tặng 11 bằng khen của Tổng hội, GS. Vũ Công Hoè - vị Chủ tịch đầu tiên của Hội đã được bầu là Hội viên Hiệp hội quốc tế chống ung thư, Hội viên Hội GPB phụ khoa Pháp, được chính phủ Pháp tặng huân chương Wermeil, Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng ba, danh hiệu Nhà giáo nhân dân. Các thế hệ kế tục như GS. Nguyễn Như Bằng được tặng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân, GS. Nguyễn Vượng, ngoài bằng khen của Tổng Hội Y Dược học Việt Nam, huy chương Vì sự nghiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, còn được bầu vào Ban chấp hành Hội Y học các nước Đông Nam Á nhiệm kỳ 9, Hội viên Hội GPB phụ khoa Pháp từ 1986, danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Huân chương lao động hạng 3 và rất nhiều huân huy chương, bằng khen các loại dành cho các hội viên khác, trong đó 11 người được tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, Nhà giáo ưu tú.

6. ĐẠI HỘI LẦN THỨ IV CỦA HỘI GPB - Y PHÁP HỌC VIỆT NAM (12/5/2006) - ĐẠI HỘI LẦN THỨ I CỦA HỘI GPB-TBBH VN VÀ HOẠT ĐỘNG SAU ĐẠI HỘI

Ngày 21/2/2005, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Quang Trung đã ký quyết định số 238/QĐ-BNV cho phép chia Hội Giải phẫu bệnh - Y pháp học Việt Nam thành Hội Pháp y học Việt Nam và Hội GPB-TBBH VN; theo quyết định số 4151/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, do Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuyên ký thay ngày 05/11/2005, công nhận Ban vận động thành lập Hội GPB-TBBH VN, và ngày 12/5/2006, Đại hội thành lập Hội GPB-TBBH VN đã được tổ chức tại Đại học Y Hà Nội và đã bầu ra Ban Chấp hành gồm 39 người do GS.TS. Nguyễn Vượng làm Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch là PGS.TS Ngô Thu Thoa và GS.TS. Nguyễn Sào Trung, PGS.TS. Nguyễn Phúc Cương làm Trưởng Ban kiểm tra, PGS.TS. Trần Văn Hợp làm Tổng thư ký, ThS Lê Trung Thọ làm Phó Tổng thư ký.

Ban chấp hành Hội đã được Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam, GS.VS. Phạm Song ký quyết định công nhận số 76/THYH ngày 17/8/2006 và Điều lệ Hội GPB-TBBH VN đã được Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt tại quyết định số 1003/QĐ-BNV (do Thứ trưởng Đặng Quốc Tiến ký thay) ngày 10/7/2006.

Trước nhiều khó khăn, thách thức, Hội GPB-TBBH VN, với truyền thống của 3 nhiệm kỳ Hội tiền thân (Hội Giải phẫu bệnh - Y pháp học Việt Nam) vẫn tiếp tục phát triển và hoàn thành về cơ bản những chỉ tiêu công tác trọng tâm đã đề ra:

- Về công tác tổ chức: Được Trung tâm GPB-TBBH Bệnh viện Bạch Mai ủng hộ và giúp đỡ, Hội đã có văn phòng tại Trung tâm và có phòng cho Chủ tịch Hội làm việc. Hội Đã thành lập 7 tiểu ban (Tổ chức, Kiểm tra, Tài chính, Khoa học kỹ thuật; Tư vấn, phản biện và giám định về khoa học công nghệ; Thông tin, tuyên truyền, xuất bản báo chí; Đối ngoại). Các Trưởng tiểu ban là ủy viên Ban Thường vụ Hội, các Phó Trưởng Tiểu ban và 1 số ủy viên đều trong Ban chấp hành Hội.

Ngoài ra, thành lập Ban biên tập Nội san GPB-TBBH (lấy danh nghĩa số chuyên đề của Y học Việt Nam) và tổ biên soạn các mục từ GPB-TBBH của Từ điển bách khoa Y học Việt Nam, do Tổng hội Y học và Bộ Y tế chủ trì.

Đã in một số chuyên đề của Y học Việt Nam, số 6/2006, tập 323, trong đó đã đăng toàn bộ các văn bản, quyết định, nghị quyết của các cơ quan có thẩm quyền hữu quan và của Đại hội… để báo cáo Tổng hội Y học Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, phát trực tiếp các đại biểu dự Hội nghị Ban Chấp hành Hội (29/9/2006) và gửi qua đường bưu điện đến các ủy viên Ban Chấp hành Hội vắng mặt cũng như các cơ sở GPB-TBBH trong cả nước.

Chỉ tiêu đến hết nhiệm kỳ là: Củng cố và phát triển tổ chức, góp phần tích cực cùng với chính quyền xóa nạn trắng cơ sơ GPB-TBBH trong cả nước. Đây là cả một quá trình phấn đấu cam go, thực sự gian khổ và có những bước thăng trầm.

Việc tách Hội GPB-Y pháp học Việt Nam thành 2 Hội riêng là cần thiết nhưng do lịch sử để lại, về tổ chức còn khá nhiều điều chưa hoàn toàn tách bạch. Ngoài các hội viên thuộc chuyên ngành GPB-TBBH tại các trường Đại học Y Dược trong cả nước, còn có hội viên thuộc các đơn vị, khoa, trung tâm GPB-TBBH thuộc các bệnh viện ở Trung ương, ở các tỉnh, các bệnh viện chuyên khoa có cơ sở GPB-TBBH và cả các cơ sở GPB-TBBH của Công an, Quân đội. Hàng loạt BS GPB-TBBH vẫn kiêm nhiệm công tác giám định y pháp và đương nhiên vẫn là hội viên Hội Y pháp học Việt Nam. Ngay ở Đại hội lần thứ II của Hội Y pháp học Việt Nam, trong Ban chấp hành vẫn có 3 BS là Trưởng khoa GPB-TBBH. Mặt khác, rất nhiều cơ sở y tế như Bệnh viện Bưu Điện, Bệnh viện Bộ Giao thông…, nhiều bệnh viện Phụ sản, Nhi khoa, Nội tiết đái tháo đường, Cơ xương khớp, Lao và bệnh phổi, Ung bướu, Tai mũi họng, Răng hàm mặt, Mắt, Lão khoa, Y học cổ truyền v.v… và v.v… đều cần có bác sĩ GPB - TBBH. Vì vậy, củng cố Hội được hiểu là những nơi đã có tổ chức, cơ sở GPB-TBBH và có hội viên thì không để ngừng hoạt động ở các địa phương và phát triển tổ chức được hiểu là: trước hết xóa nạn trắng, để không còn tỉnh nào không có cơ sở GPB-TBBH.

Trừ 1 ủy viên Ban Chấp hành bị bệnh, 5 ủy viên Ban Chấp hành hầu như bỏ sinh hoạt Hội nên Ban Thường vụ Hội đã đề nghị bổ sung TS Nguyễn Ngọc Hùng (phụ trách khối Quân y); BSCKII Phạm Kim Bình, PGS.TS. Nguyễn Văn Hưng, TS. Lê Quang Vinh và PGS.TS. Tạ Văn Tờ vào Ban Chấp hành để tiếp tục giới thiệu trong Đại hội lần thứ II.

Để xóa nạn trắng GPB-TBBH, Hội đã có công văn gửi Bộ Y tế và các cơ sở y tế cấp tỉnh, thành phố đề nghị giúp đỡ. Đến tháng 6/2009, qua theo dõi và các báo cáo, cả nước đã có 145 cơ sở GPB-TBBH trên 62 tỉnh, thành phố; chỉ còn tỉnh Đắc Nông là chưa có khoa GPB-TBBH nhưng đến nay cũng đã được hình thành. Tuy nhiên, vẫn còn một số bệnh viện ngành (Nông nghiệp, Giao thông vận tải, các bệnh viện Y học cổ truyền, châm cứu) trước đã có đơn vị GPB nay lại bị xóa, một số bệnh viện tư (chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh) cũng chưa có cơ sở GPB-TBBH.

- Về phát thẻ hội viên: Sau nhiều lần lấy ý kiến, Hội thống nhất mẫu thẻ là loại thẻ cứng, có ảnh hội viên, hình thức đẹp, dễ bảo quản… và đợt đầu đã phát được cho một số khá lớn Hội viên. Hoạt động này đã được Tổng hội Y học Việt Nam đánh giá cao.

- Về Logo của Hội: Đã được phác thảo và lấy ý kiến nhiều lần, có hình minh họa thử, nhưng do chưa thật thống nhất trong Ban Thường vụ và Ban Chấp hành nên chưa phát hành.

- Về thực hiện quy chế hội chẩn: Trong khi Bộ Y tế chưa có quy định cụ thể về quy chế hội chẩn cho từng chuyên ngành, việc tổ chức hội chẩn trong bối cảnh quá tải như thời kỳ này, đặc biệt ở những bệnh viện lớn, là vấn đề không dễ. Tuy vậy, Hội đã soạn thảo thành văn bản và lấy ý kiến của 61 hội viên đại diện ở các tính phía Bắc (từ Huế trở ra) để trình Bộ Y tế, và việc tổ chức hội chẩn vẫn được tiến hành thường xuyên ở các cơ sở có Bộ môn, Khoa GPB-TBBH, chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước… không chỉ một cơ sở mà có những trường hợp phải hội chẩn nhiều cơ sở, cả quân và dân y, kể cả hành nghề y tư nhân.

- Về xây dựng giá xét nghiệm GPB: Hội đã cùng với chuyên ngành đề xuất và soạn thảo từ 2006. Sau nhiều lần nghe ý kiến và chỉnh chữa, bổ sung, bảng giá xét nghiệm các loại trong chuyên ngành có sự đóng góp tích cực của Hội đã được Bộ Y tế phê duyệt và ban hành năm 2012 và hiện đang được thực thi trong cả nước.

- Tham gia việc biên soạn Từ điển bách khoa Y học Việt Nam: GS.TS. Nguyễn Vượng - Chủ tịch Hội GPB-TBBH VN đã được Tổng hội Y học Việt Nam và Bộ Y tế cử làm Trưởng ban biên tập cuốn từ điển này. Tiểu ban biên soạn các mục từ của chuyên ngành GPB-TBBH cũng đã được hình thành, do chính GS.TS. Nguyễn Vượng làm tổ trưởng và 8 ủy viên, gồm các chuyên gia trong ngành đã được tham gia hoặc tập huấn về vấn đề này, trong đó có 6 ủy viên ở Hà Nội và 2 ủy viên ở TP. Hồ Chí Minh. Hội đã nộp danh sách 394 mục từ chuyên ngành. Sau khi tổng hợp các mục từ trùng với ít nhất 1-4 chuyên ngành nên tạm thời phải ngưng lại để Ban chỉ đạo biên soạn phân công cụ thể. Kể từ khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế và Chủ tịch Tổng hội Y học, chỉ trong 2 năm, Hội đã hoàn thành được 103 mục từ và đã in trong Từ điển bách khoa Y học Việt Nam, nộp lưu chiểu 2011. Trong số 1.096 trang, có trên 4.000 mục từ, chuyên ngành đã đóng góp 1/40 số mục từ được in trên tổng số 43 Hội chuyên khoa của Tổng hội Y học Việt Nam.

- Về tài liệu cho chuyên ngành và Hội: Đương nhiên, Hội chỉ có thể góp phần và động viên các hội viên là chuyên gia ở các cơ sở. Ngoài sách GPB học của Bộ môn GPB Đại học Y Hà Nội có sửa chữa, tái bản (2 bộ), tài liệu viết cho KTV, Trung tâm GPB-TBBH Bệnh viện Bạch Mai, ngoài những tài liệu tập huấn, còn có bộ sách đào tạo lại đã được Bộ Y tế duyệt cho in. Bộ môn GPB Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh cũng đã có 3 sách viết trong nhiệm kỳ. Ngoài ra, một số đơn vị GPB-TBBH của Quân đội như ở Bệnh viện 175 (TP. Hồ Chí Minh) cũng đã in 4 sách ảnh màu vi thể, và Khoa GPB-TBBH Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong dịp mở lớp đào tạo lại của chuyên ngành trong toàn quân mở rộng ra dân y cả nước, đã in cuốn sách đào tạo lại trên 300 trang.

Cùng với việc biên soạn tài liệu, các đơn vị chủ chốt của chuyên ngành đã phối hợp với Hội mở hàng chục lớp đào tạo lại ở cấp khu vực, miền, toàn quốc cho học viên bào gồm BS (cả trong và sau đại học), KTV (trung, cao cấp) và cử nhân…

- Về phân tuyến kỹ thuật: Do yêu cầu của Bộ Y tế, Trung tâm GPB-TBBH Bệnh viện Bạch Mai phối hợp với Hội GPB-TBBH VN và nhiều cơ sở chuyên ngành đã xây dựng bảng danh mục các loại xét nghiệm GPB-TBBH, bước đầu đã được Bộ Y tế phê duyệt và đang tiếp tục hoàn chỉnh để Bộ chính thức ban hành trong cả nước.

- Quan hệ quốc tế: Chủ yếu là ở các cơ sở lớn của Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện 103… đảm bảo theo đúng những yêu cầu của Đảng, Nhà nước về quan hệ quốc tế. Phạm vi quan hệ bao gồm các đơn vị GPB-TBBH lớn của nhiều nước như Pháp, Nhật, Mỹ, Australia, Hàn Quốc và một số nước châu Á khác như Singapore, Malaysia… Hội cùng Trung tâm GPB-TBBH Bệnh viện Bạch Mai, qua Giám đốc Trung tâm Đặng Văn Dương, hợp tác với Australia trong chương trình Học mãi. Phối hợp với phía Mỹ, thực hiện chương trình phát hiện sớm ung thư cổ tử cung tại cộng đồng...

Chuyên gia của các nước trên - đặc biệt từ Mỹ, Australia đã giúp chuyên ngành nhiều kiến thức GPB chung và chuyên sâu không chỉ qua hội chẩn tiểu bản mô bệnh học và tế bào mà còn qua nhiều lớp đào tạo lại ngắn hạn hoặc chuyên đề, đặc biệt có 4 cuộc hội thảo quốc tế trong chuyên ngành.

- Tổ chức hội nghị khoa học: Không kể hàng chục hội nghị khoa học ở các trường đại học, bệnh viện có các viết bài, báo cáo, tham dự hội nghị của các hội viên GPB-TBBH, Hội đã tổ chức được 6 hội nghị khoa học có tính chất toàn quốc từ 2007-2011 có sự tham gia (trong 4 hội nghị) của cả các đại biểu nước ngoài, vừa tiếp thu, học tập kiến thức cập nhật đồng thời cũng giới thiệu với đồng nghiệp nước ngoài về một số tiến bộ được áp dụng trong chẩn đoán bệnh ở Việt Nam như các đề tài áp dụng các kỹ thuật hóa mô, hóa mô miễn dịch, hiển vi điện tử và các kỹ thuật sinh học phân tử khác như lai tại chỗ nhiễm sắc thể, miễn dịch huỳnh quang, bệnh học phân tử… từng bước đưa chuyên ngành cập nhật trình độ quốc tế. Hầu hết những hội nghị này đều có những bài đăng trên Tạp chí Y học của TP. Hồ Chí Minh (4 số) và Y học Việt Nam (2 số), trong đó 1 số có đăng lần đầu tiên 86 ảnh màu vi thể, cho đến nay đây vẫn là tài liệu duy nhất được in có hàng loạt ảnh vi thể màu ở Việt Nam.

Theo thống kê chưa đầy đủ, các Hội viên chuyên ngành đã góp phần đào tạo hàng nghìn sinh viên, BS chuyên khoa định hướng, BS nội trú, trong đó có nhiều hội viên; đã tham gia chấm nhiều luận văn (Thạc sĩ, BSCKI, BSCKII); tham gia trên 500 hội đồng chấm luận án Tiến sĩ Y học và tham gia hướng dẫn học viên thực hiện trên 300 đề tài luận văn, luận án. Các hội viên còn chủ trì hoặc tham gia nhiều đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước.

Những hoạt động nêu trên đã góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán của chuyên ngành nên trong nhiệm kỳ vừa qua trên hàng triệu xét nghiệm MBH-TBBH tại các cơ sở, hầu như không xảy ra sự việc sai lầm đáng tiếc nào dẫn đến việc phải quy trách nhiệm hình sự.

- Về xét nghiệm sàng lọc tại cộng đồng: Không kể hàng vạn xét nghiệm về mô bệnh học các loại, tế bào học chọc hút kim nhỏ, tế bào học bong ở các cơ sở lớn của chuyên ngành, việc xét nghiệm sàng lọc tế bào học tại cộng đồng, chủ yếu là tế bào học phụ khoa (một phần là chọc hút kim nhỏ tuyến giáp, tuyến vú) ở cả 3 miền, trong 5 năm vừa qua, chuyên ngành cùng với Hội đã xét nghiệm sàng lọc cho hàng trăm nghìn người, trong đó có nhiều bệnh hiểm nghèo được phát hiện sớm để có thể chữa khỏi hoàn toàn (như trong ung thư sớm).

- Chức năng tư vấn, phản biện, giám định xã hội về khoa học công nghệ: Hội đã có nhiều nỗ lực đóng góp với Nhà nước, Bộ Y tế, Tổng hội Y học Việt Nam vì quyền lợi của ngành cũng như các hội viên chuyên ngành GPB-TBBH, như: Tham gia soạn thảo luật khám chữa bệnh với tư cách là một thành viên của Ban soạn thảo; Tham gia vào vấn đề bảo hiểm y tế, giảm tải bệnh viện, luật phòng chống tác hại thuốc lá; Mới đây đã tham gia vào dự thảo chính sách về hạn chế bia rượu; Chương trình Nghiên cứu khoa học của Nhà nước tới 2020; Tham gia tích cực, góp phần giải quyết chế độ độc hại cho chuyên ngành, chế độ phụ cấp giáo dục, phụ cấp độc hại cho các BS biên chế trường nhưng tham gia làm công tác ở bệnh viện…

Như vậy, trên 12 điểm đã nêu trong định hướng công tác suốt nhiệm kỳ, Hội đã hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ của mình.

7. ĐẠI HỘI LẦN THỨ II CỦA HỘI GPB-TBBH VN (17/12/2012) VÀ HOẠT ĐỘNG SAU ĐẠI HỘI ĐẾN NAY

Ngày 17/12/2012, tại Trường Đại học Y Hà Nội, Hội GGPB-TBBH VN đã tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, trong bối cảnh toàn ngành Y tế đang có nhiều đổi mới và nỗ lực trong việc chống quá tải bệnh viện, bảo hiểm y tế cho người nghèo, nâng cao chất lượng đạo tạo và khám chữa bệnh v.v… Mặt khác, những khó khăn về kinh tế toàn cầu cũng ảnh hưởng không ít tới tình hình chung của đất nước ta, trong đó có Hội GPB-TBBH Việt Nam.

Tham dự Đại hội có hơn 100 đại biểu hội viên đại diện cho hầu hết các cơ sở GPB-TBBH của của dân y và của lực lượng vũ trang cả nước (một số đại biểu miền Nam do bận công tác cuối năm không thể về dự đã có trao đổi qua điện thoại và email, hoàn toàn tán thành với bản dự thảo báo cáo và Nghị quyết của Đại hội).

Đại hội đã cử ra Đoàn Chủ tịch và Ban Thư ký, gồm các vị:

+ GS.TSKH Phạm Mạnh Hùng - Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam

+ GS.TS. Nguyễn Vượng - Chủ tịch Hội GPB-TBBH VN

+ GS. Vi Huyền Trác - Uỷ viên Thường vụ Hội GPB-TBBH

+ PGS.TS. Trần Văn Hợp - Tổng Thư ký Hội GPB-TBBH

+ TS. Nguyễn Văn Bằng - Uỷ viên Thường vụ Hội GPB-TBBH

- Tổ Thư ký Đại hội gồm: TS. Lê Trung Thọ và ThS. Phạm Văn Tuyến.

Đại hội đã nghe GS.TS Nguyễn Vượng - Chủ tịch Hội GPB-TBBH nhiệm kỳ I đọc báo cáo tổng kết công tác Hội nhiệm kỳ I (2006.-2011); PGS.TS. Trần Văn Hợp - Tổng thư ký Hội đọc Báo cáo Điều lệ Hội sửa đổi. Bản Điều lệ này đã nhận được sự đóng góp chân thành và nhất trí cao của các Hội viên trong Đại hội; PGS.TS. Nguyễn Phúc Cương trình bày Báo cáo của Ban Kiểm tra, cho thấy trong toàn bộ nhiệm kỳ I đã không có bất cứ sai phạm nào; BSCKI Bùi Mạnh Thắng trình bày Báo cáo về công tác tài chính của Hội, cho thấy công tác tài chính hết sức minh bạch, rõ ràng, chi tiêu đúng theo nguyên tắc quản lý tài chính.

Đại hội cũng đã vinh dự được nghe các ý kiến phát biểu chào mừng của TS. Trần Hữu Thăng - Phó Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam và PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh - Bí thư Đảng ủy kiêm Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội.

Đại hội chia vui cùng BS Vũ Hoàng Ánh - Trung tâm GPB-TBBH Bệnh viện Bạch Mai, được GS.TSKH Phạm Mạnh Hùng - Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam trao tặng Bằng khen và quà của Tổng hội vì đã có nhiều đóng góp trong hoạt động chuyên môn và đào tạo của chuyên ngành GPB-TBBH.

Đại hội đã bầu Chủ tịch, các Phó chủ tịch và Tổng thư ký Hội nhiệm kỳ II, cụ thể như sau:

- Chủ tịch Hội: PGS.TS. Trịnh Tuấn Dũng (Trưởng khoa GPB, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108).

- 05 Phó Chủ tịch Hội: GS.TS. Nguyễn Sào Trung, PGS.TS. Hứa Thị Ngọc Hà, TS. Nguyễn Văn Bằng, PGS.TS. Tạ Văn Tờ và PGS.TS. Nguyễn Văn Hưng.

- Tổng thư ký: TS. Lê Trung Thọ

Đại hội cũng đã nhất trí bầu 55 vị vào Ban chấp hành Hội nhiệm kỳ II.

Sau Đại hội, ngày 23/3/2013, tại hội trường Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Ban Chấp hành Hội GPB-TBBH VN đã họp phiên thứ nhất, dưới sự chủ trì của PGS.TS. Trịnh Tuấn Dũng - Chủ tịch Hội, TS. Lê Trung Thọ - Tổng thư ký Hội làm Thư ký. Nội dung của phiên họp: Bầu các ủy viên thường vụ, các Trưởng Tiểu ban, và tiến hành các thủ tục bàn giao giữa Ban lãnh đạo Hội nhiệm kỳ I cho Ban lãnh đạo Hội nhiệm kỳ II (2012-2017), đồng thời bàn về định hướng công tác Hội năm 2013 và những năm tiếp theo.

Hội nghị vui mừng được đón GS.TS Mai Hồng Bàng - Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đến dự và phát biểu chào mừng.

Hội nghị đã bầu ra Ban Thường vụ Hội gồm 17 uỷ viên (PGS.TS. Trịnh Tuấn Dũng, GS.TS. Nguyễn Sào Trung, PGS.TS. Hứa Thị Ngọc Hà, PGS.TS. Nguyễn Văn Hưng, PGS.TS. Tạ Văn Tờ, TS. Nguyễn Văn Bằng, PGS.TS Lê Trung Thọ, GS. Vi Huyền Trác, GS.TS Nguyễn Vượng, PGS.TS. Nguyễn Phúc Cương, PGS Đặng Văn Dương, PGS.TS. Lê Chí Dũng, BS cao cấp Trần Minh Thông, PGS.TS. Đặng Công Thuận, ThS. Nguyễn Văn Thành, ThS. Nguyễn Văn Hồng và ThS. Phạm Văn Tuyến).

Hội nghị đã bầu 02 Phó Tổng thư ký là PGS.TS Đặng Công Thuận (Chủ nhiệm Bộ môn GPB - Đại học Y Dược Huế) và ThS.BS. Nguyễn Văn Thành (Trưởng khoa GPB - Bệnh viện Ung bướu TP. Hồ Chí Minh).

Hội nghị đã bầu ra 7 Trưởng Tiểu Ban và phân công các uỷ viên Thường vụ phụ trách các khu vực, cụ thể như sau:

- PGS.TS. Trịnh Tuấn Dũng (Chủ tịch Hội): Phụ trách chung, kiêm Trưởng Ban Tổ chức.

- GS.TS. Nguyễn Sào Trung (Phó Chủ tịch Hội): Trưởng Ban Khoa học. Phụ trách từ Quảng Ngãi trở vào.

- PGS.TS Hứa Thị Ngọc Hà (Phó Chủ tịch Hội) - Trưởng Ban Xuất bản, thông tin - tuyên truyền.

- PGS.TS. Nguyễn Văn Hưng (Phó Chủ tịch Hội): Trưởng Ban đào tạo. Phụ trách Khu vực Hà Nội

- PGS.TS. Tạ Văn Tờ (Phó Chủ tịch Hội): Phụ trách khu vực miền Bắc (trừ Hà Nội).

- TS. Lê Trung Thọ (Tổng thư ký): Phụ trách chung, đặc trách thêm khu vực từ Hà Tĩnh trở ra phía Bắc.

- PGS.TS Nguyễn Phúc Cương - Trưởng Ban Kiểm tra; Phó trưởng Ban là ThS Nguyễn Văn Hồng.

- PGS.BS Đặng Văn Dương - Trưởng Ban Đối ngoại

- ThS Phạm văn Tuyến - Trưởng Ban Tài Chính

- GS.TS Nguyễn Vượng - Trưởng Ban tư vấn, phản biện và giám định xã hội về khoa học công nghệ của chuyên ngành; Phó Trưởng Ban là BS Cao cấp Trần Minh Thông.

- TS. Nguyễn Văn Bằng (Phó Chủ tịch Hội), PGS.TS Đặng Công Thuận (Phó Tổng thư ký): Phụ trách từ Quảng Bình đến Quảng Nam

- ThS.BS. Nguyễn Văn Thành (Phó Tổng thư ký) phụ trách từ Quảng Ngãi trở vào (cùng GS.TS. Nguyễn Sào Trung).

Hội nghị cũng đã trao đổi, và thống nhất về các định hướng lớn trong công tác Hội nhiệm kỳ II (2012-2017).

Biên bản đã được thông qua tại hội nghị với 100% đại biểu tham dự nhất trí tán thành.

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc và phiên họp thứ nhất Ban chấp hành Hội, Ban lãnh đạo Hội đã nhanh chóng hoàn chỉnh các văn kiện Đại hội gửi Bộ Nội vụ, Bộ Y tế và Tổng hội YHVN. Ngày 08/4/2013, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam - GS.TSKH Phạm Mạnh Hùng đã ký quyết định số 116/2013/QĐ-THYH công nhận Ban chấp hành Hội GPB-TBBH VN nhiệm kỳ 2012-2017; ngày 26/6/2013, Bộ Trưởng Bộ Nội vụ cũng đã ký quyết định số 784/QĐ-BNV phê duyệt Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) Hội GPB-TBBH VN, trong đó tên tiếng Việt giữ nguyên: “Hội Giải phẫu bệnh - Tế bào bệnh học Việt Nam”, nhưng tên tiếng Anh được chỉnh sửa thành: “Vietnam Society of Pathology and Cytology”, viết tắt là VSPC.

Ngày 02/3/2013, Giám đốc Bệnh viện TƯQĐ 108 - Trung tướng, PGS.TS. Trần Duy Anh đã ký quyết định bố trí Văn phòng Hội tại tầng 9 Trung tâm kỹ thuật cao - Bệnh viện TƯQĐ 108 với đầy đủ tiện nghi cần thiết.

Ngày 22/01/2015, tại phiên họp lần thứ 4 Ban chấp hành Tổng hội Y học Việt Nam nhiệm kỳ XV (2011-2015), PGS.TS. Trịnh Tuấn Dũng - Chủ tịch Hội GPB-TBBH VN đã được bầu bổ sung vào Ban chấp hành của Tổng hội Y học Việt Nam (quyết định công nhận số 93/2015/QĐ-THYH do GS.TSKH. Phạm Mạnh Hùng - Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam ký ngày 19/3/2015).

Trong 03 năm đầu, kể từ sau Đại hội lần thứ II (nhiệm kỳ 2012-2017), dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Hội GPB-TBBH VN, đứng đầu là PGS.TS. Trịnh Tuấn Dũng - Chủ tịch Hội, đến nay Hội đã có nhiều hoạt động thiết thực và hiệu quả, cụ thể như sau:

- Sau khi thiết kế Logo Hội, đã t

Bình luận

Tin tức mới

Vinashine
Vanban