Kỷ niệm về thầy của tôi - GS Vi Huyền Trác

  07/08/2017

Kỷ niệm về Thày của tôi

 

Kỷ niệm về Thày, GS. Vi Huyền Trác

Bộ môn Giải phẫu bệnh Đại học Y Hà Nội

 

Tôi thật may mắn lần đầu tiên được trực tiếp theo học và làm việc với Thày, giáo sư Vi Huyền Trác, vào năm thứ 2 (năm 1979) sau khi thi đỗ vào hệ Bác sĩ Nội trú, cũng là lớp Bác sĩ Nội trú đầu tiên của chuyên ngành Giải phẫu bệnh Trường Đại học Y Hà Nội (khóa duy nhất chúng tôi được Nhà trường cho thi vào hệ này ngay từ cuối năm thứ 4 trong hệ 6 năm). Như vậy, sinh viên năm thứ 5 chúng tôi đã bắt đầu học chuyên môn Giải phẫu bệnh cùng khóa Bác sĩ chuyên khoa sơ bộ Giải phẫu bệnh (chuyên khoa sơ bộ lúc đó là 2 năm). Vì là khóa Bác sĩ Nội trú đầu tiên về chuyên ngành Giải phẫu bệnh nên chúng tôi được các Thày, Cô và các anh chị trong Bộ môn quan tâm, quý mến. Một hôm, Thày gọi tôi vào phòng hỏi tôi tại sao thi vào hệ Nội trú Giải phẫu bệnh và Thày cho phép tôi tham gia nhóm nghiên cứu ung thư vòm mũi họng, một trong những đề tài cấp Bộ của Thày, thực hiện phối hợp với Viện Tai Mũi Họng Trung ương. Với mối quan hệ Quốc tế rộng rãi, đặc biệt là với Cộng hòa Pháp, Thày đã tạo dựng được mối quan hệ mật thiết với phía Pháp thông qua giáo sư Opermman, một chuyên gia nổi tiếng về Giải phẫu bệnh của Pháp. Nhờ đó, một số trang thiết bị và hóa chất được phía Pháp viện trợ giúp phát triển Bộ môn, đặc biệt lúc đó có một số hóa chất cho nghiên cứu hóa mô miễn dịch phát hiện kháng nguyên virus Epstein Barr trong ung thư vòm mũi họng.

Vào lúc đó, hóa mô miễn dịch là một kỹ thuật vô cùng mới và hiện đại đối với chuyên ngành Giải phẫu bệnh Việt Nam cũng như thế giới. Hầu như chưa ai có kinh nghiệm làm kỹ thuật này ở ta. Vì là kỹ thuật mới nên thế giới cũng đang tìm kiếm phương pháp tối ưu cho kỹ thuật. Tôi nhớ lúc đó chưa có bước phục hồi kháng nguyên như hiện nay. Có lẽ vì thế nên đôi lúc kết quả kỹ thuật chưa được như mong muốn.

Những lần thất bại ban đầu đã làm cho nhóm khá hoang mang, lo lắng do đây là cơ hội hiếm có để thực hiện kỹ thuật hiện đại lần đầu tiên này ở Việt Nam, hơn nữa các hóa chất lại rất đắt tiền và không phải cứ muốn là mua được như bây giờ. Thày hiểu được áp lực đó đối với chúng tôi nên Thày luôn động viên và dù bận rất nhiều công việc (lúc đó Thày giữ chức phó chủ nhiệm Bộ môn và phó Chủ tịch Hội Giải phẫu bệnh – Y pháp) nhưng Thày vẫn luôn theo sát nhóm để tìm nguyên nhân, phân tích cơ chế hóa học tác động lên mô cũng như cách khắc phục. Lúc đó tôi mới vỡ ra là hiểu biết của thày rất sâu rộng không những về chuyên môn mô bệnh học mà cả về lĩnh vực kỹ thuật vi thể. Sau đó, kỹ thuật hóa mô miễn dịch đã được các cán bộ của Bộ môn Giải phẫu bệnh thực hiện thành công. Tiếp đó, kết quả nghiên cứu kỹ thuật cùng dự kiến giá trị tương lai của nó đã được Thày báo cáo rộng rãi trong nhiều Hội nghị Y học trong nước và Quốc tế.

Một lời chỉ bảo động viên lúc đó của Thày mà tôi còn nhớ mãi: các “toi” (các cậu) muốn tiến bộ về chuyên môn thì phải học hỏi các kiến thức và kỹ thuật mới của thế giới và theo “moi” (theo tôi), tương lai kỹ thuật hóa mô miễn dịch chắc chắn sẽ là kỹ thuật được ứng dụng phổ biến trong chuyên ngành Giải phẫu bệnh, nó sẽ giúp bác sĩ Giải phẫu bệnh chẩn đoán bệnh ở mức phân tử một cách chính xác hơn và dễ dàng hơn.

Thực tế hiện nay đã chứng minh điều Thày dự đoán là hoàn toàn đúng đắn. Nhiều khoa Giải phẫu bệnh Trung ương và Đại học Y Hà Nội đã thực hiện kỹ thuật hóa mô miễn dịch một cách thường quy và khó có thể phủ nhận giá trị của kỹ thuật hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán mô bệnh học, đánh giá tiên lượng, đáp ứng điều trị, thậm chí còn định hướng cho việc điều trị lâm sàng. Hơn nữa, hiện nay một số kháng thể đặc hiệu đột biến đã được sản xuất với độ chính xác gần tương đương với kỹ thuật phân tích gen và tương lai ứng dụng trong lâm sàng là rất khả quan.

Sau một thời gian công tác trong chuyên ngành tôi mới hiểu hết ý nghĩa lời chỉ bảo của Thày. Do nhận ra được lĩnh kỹ thuật vi thể không phải chỉ là công việc thuần túy của các anh chị kỹ thuật viên mà chính bác sĩ phải là người hiểu biết về kỹ thuật để biết chỉ định chính xác kỹ thuật vi thể cho từng trường hợp bệnh học cụ thể và đặc biệt phải biết thế nào là kết quả đúng hoặc sai của kỹ thuật cũng như cách hiệu chỉnh chúng nên tôi luôn có ý thức học hỏi và tìm hiểu sâu hơn về kỹ thuật vi thể. Tinh thần và lời chỉ bảo của Thày đã trở thành mục tiêu, lý tưởng để tôi phấn đấu cũng như truyền đạt lại tinh thần đó cho nhiều thế hệ nối tiếp khác.

Thày luôn là tấn gương sáng trong nghiên cứu khoa học, áp dụng các tiến bộ của thế giới vào lĩnh vực chuyên ngành. Nhiều công trình nghiên cứu, sách giáo khoa, đề tài cấp Bộ và cấp Quốc gia liên quan của Thày là những minh chứng đầy thuyết phục: Lĩnh vực kỹ thuật nhuộm đặc biệt dành cho nghiên cứu vi thể; phát hiện nhanh, chính xác ký sinh trùng sốt rét trong máu bằng kỹ thuật nhuộm cận sống; mô bệnh học ung thư vòm mũi họng và bộc lộ kháng nguyên virus Epstein Barr; phân loại mô bệnh học ung thư vòm mũi họng bằng kỹ thuật alpha – naphtylacetate esterase không đặc hiệu; nuôi cấy tế bào và tác động dược lý của một số hoạt chất (thuốc) lên tế bào nuôi cấy; nghiên cứu siêu cấu trúc nguyên bào nuôi; giải phẫu bệnh thực nghiệm trong sản xuất vaccine phòng bệnh;

Trong suốt chặng đường học tập và phấn đấu trưởng thành của mình, từ lúc mới bước vào chuyên khoa với luận văn Bác sĩ chuyên khoa sơ bộ rồi luận văn Bác sĩ Nội trú và tới luận án Tiến sĩ Y học tôi may mắn luôn được Thày trực tiếp hướng dẫn. Tôi càng thấm thía lời dạy của Thày, cảm phục Thày và quyết tâm học tập, nâng cao hiểu biết và luôn có ý thức truyền đạt lại tinh thần mà Thày đã dạy cho nhiều thế hệ kế tiếp và như vậy, tinh thần đó đã trở thành di sản trường tồn trong các thế hệ bác sĩ Giải phẫu bệnh tương lai.

Trong tôi vẫn luôn giữ kỷ niệm về hình ảnh người Thày không ngại tiếp cận những lĩnh vực khoa học mới và luôn say mê dấn thân nghiên cứu chúng cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Tôi còn nhớ về lĩnh vực giải phẫu bệnh thực nghiệm, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương mời Thày tham gia đề tài cấp Quốc gia về việc nghiên cứu sản xuất vaccine phòng bệnh, đây là lần đầu tiên Việt Nam tự sản xuất vaccine phòng bại liệt. Lúc nhóm nghiên cứu ra thị sát đảo Khỉ, Quảng Ninh, Thày đã rất cẩn thận quan tâm đến điều kiện sống cũng như cách thức nuôi dưỡng đàn khỉ sau gây nhiễm kháng nguyên một cách chủ động để sau này đối chiếu với tổn thương vi thể và Thày đã đưa ra một số góp ý về cách tiêm kháng nguyên. Mặc dù Giải phẫu bệnh thực nghiệm liên quan đến sản xuất vaccine cũng là một lĩnh vực mới đối với ngành Giải phẫu bệnh Việt Nam nhưng Thày không ngại tìm tòi, trao đổi với chuyên gia Nhật Bản về đề tài này. Kết quả nghiên cứu rất đáng tự hào là thành phẩm vaccine phòng bệnh bại liệt mà Thày cùng chúng tôi tham gia tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã được Tổ chức Y tế Thế giới chấp nhận đạt chuẩn và khuyến cáo sử dụng rộng rãi.

Bác sĩ ngành Giải phẫu bệnh luôn phải tiếp xúc với người bệnh ung thư để chẩn đoán bệnh, xác định giai đoạn tiến triển bệnh và trước đây, người bệnh thường đến Bệnh viện ở giai đoạn muộn, đã có di căn nhiều hạch và phủ tạng. Trong hoàn cảnh ấy, Thày đã chứng kiến biết bao người bệnh, trẻ có, già có, và cả những thanh niên lẽ ra còn cả cuộc đời đầy cống hiến phía trước nhưng hầu hết phải ra đi trong tình trạng đau đớn khôn cùng về thể xác. Rung động trước những hoàn cảnh đó, từ lâu Thày đã ấp ủ áp dụng một bài thuốc dân gian với mong muốn rất nhân văn là có thể ít nhất làm dịu đi đau đớn ở người bệnh mắc bệnh nan y này.

Thế nên, ở độ tuổi gần 70, Thày vẫn không quản tuổi tác để tiến hành đề tài cấp Cơ sở Bệnh viện Bạch Mai về đánh giá tác động của một số hoạt chất (đã chiết suất) từ bài thuốc gia truyền lên người bệnh ung thư và một số bệnh nan y khác. Tôi lại có may mắn nữa được làm phụ tá cho Thày trong nghiên cứu này. Thật thương tâm, khi có những người bệnh đã trải qua các phương pháp điều trị hiện đại đương thời nhưng không hiệu quả, bệnh vẫn tiến triển. Họ đến gặp Thày với một niềm hy vọng mới. Tôi không biết nhiều về thuốc Đông y. Theo như Thày giảng giải, phần lớn các vị thuốc có tác động hiệu chỉnh hệ thống miễn dịch của cơ thể nhưng khả năng hấp thu, chuyển hóa thuốc ở từng người bệnh lại không giống nhau nên cần phải có thời gian cho thuốc kịp chuyển hóa, tác động.

Thật thú vị, lời giải thích chỉ bằng một số khái niệm rất đơn giản được đúc kết từ những hiểu biết khoa học của cả cuộc đời, người bệnh đã hiểu được sự quan tâm, lo lắng của Thày đối với tình hình sức khỏe của họ nên đã an tâm điều trị. Chỉ gần đây, một số nghiên cứu của thế giới liên quan đến vấn đề xuất hiện các tế bào viêm trong mô ung thư, người ta đã phát hiện vai trò của lympho T, đặc biệt là T-CD4+ và T-CD8+ (chỉ một số dưới nhóm của chúng) hiện diện trong mô u, xen giữa các tế bào u lại có tác động tới tình trạng bệnh theo chiều hướng tốt. Các tế bào u bị các tế bào T tấn công gây thoái hóa, rồi việc đáp ứng điều trị ở họ cũng tốt hơn. Lại một lần nữa tư tưởng tiến trước của Thày về việc hiệu chỉnh miễn dịch trong điều trị ung thư được thể hiện, điều mà Y học hiện đại gần đây mới chứng minh. Thày đã dành nhiều năm trời để tìm hiểu về Đông y qua các pho sách kinh điển quý báu như Kinh dịch, Chu dịch, Thái ất thần kinh, Độn giáp, là những tinh hoa của triết cổ Đông phương, trong đó, người xưa quan niệm về con người là một thể thống nhất, một vũ trụ thu nhỏ trong vũ trụ lớn.

Việc điều trị bằng bài thuốc gia truyền bước đầu thu được kết quả khá khả quan với chất lượng cuộc sống của người bệnh phần nào được cải thiện như giảm đau, người bệnh ăn và ngủ tốt hơn, có thể tự phục vụ. Tôi nhớ một trường hợp bệnh nhân khoảng 60 tuổi bị ung thư gan đến với Thày ở giai đoạn muộn (giai đoạn không còn dùng được hóa chất điều trị), kích thước u gan tới 8 - 9 cm đường kính, bệnh nhân đau đớn, vàng da, ăn khó tiêu,….sau một thời gian dùng thuốc, triệu chứng đau giảm dần, người bệnh vô cùng vui mừng, đặc biệt trong 2 năm dùng thuốc, kích thước u to lên rất chậm, bệnh nhân có thể đi lại và tự lo sinh hoạt hàng ngày, thậm chí còn đến xin ý kiến Thày là liệu có nên đi chơi xa bằng otô không?

Nhiều lúc suy nghĩ và tôi tự hỏi, ở thế hệ của Thày, bằng cách nào trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn, thiếu thốn các trang thiết bị làm việc, ngay cả nhu cầu tối thiểu hàng ngày cho con người cũng không đủ nhưng thế hệ các thày vẫn phần đấu, rèn luyện không mệt mỏi và đã tạo ra những thành tích gần như không tưởng đối với thế hệ hiện tại nếu phải ở trong điều kiện làm việc đó. Phải chăng đó là sự cộng gộp của nhiều yếu tố để tạo ra tố chất riêng biệt ở mỗi con người đặc trưng cho thế hệ, như yếu tố văn hóa giáo dục gia đình, tinh thần và ý chí tự rèn luyện, khả năng xác định mục tiêu và lý tưởng sống với văn hóa cho đi là niềm hạnh phúc lớn lao đã làm nên sự khác biệt này! Và phải chăng sự khác biệt ở Thày còn là sự tiếp nối tinh thần và ý chí của người cán bộ chiến sĩ cách mạng đã từng tham gia Binh đoàn Quân Y 308 (Binh đoàn Quân Y hùng mạnh nhất của Việt Nam lúc đó, Thày giữ chức Trưởng Ban Quân Y Trung đoàn 36) với nhiều chiến công lẫy lừng trong kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược.

Cho đến nay, dù đã ở tuổi 95, tuổi xưa nay vô cùng hiếm, nhưng Thày vẫn giữ được cốt cách và tinh thần làm việc như những năm còn công tác ở Bộ môn. Những tác phẩm mà Thày đã hoàn thành ở độ tuổi này như nhiều bức tranh vẽ, những bài thơ đầy rung cảm khắc họa chân thật một cách thần kỳ những khoảnh khắc chợt đến với Thày giống như những nghệ sĩ chuyên nghiệp bắt được “cái thần” của sự việc. Bài thơ “Thày” mà Thày viết đã mô tả được “cái thần” đó:

Trong lúc giảng bài

Anh không còn là anh

Trong niềm say mê vô hạn

..

Lúc thì thầm

Như cho chính bản thân mình

Thế giới của anh

Thế giới mênh mông kỳ lạ

Nhưng thật mạch lạc

Ý rõ

Lời hay

Thấm thật

Đến tận đáy tâm hồn.

(Trích từ tập thơ “Hồn gửi cho ai” của GS. Vi Huyền Trác do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản)

Điều đáng trân trọng và tự hào hơn nữa khi chúng ta, những thế hệ học trò được chứng kiến, ở Hội đồng khoa học Cấp Trường, với tuổi 95 Thày vẫn hoàn thành tốt cương vị Chủ tịch Hội đồng điều khiển buổi bảo vệ luận án Tiến sĩ. Tinh thần minh mẫn với nhiều ý kiến quý báu, Thày đã hướng dẫn học trò vận dụng lý thuyết nghiên cứu gắn với thực tế, biến những lý thuyết hàn lâm trở thành tài sản chung cho việc cải thiện chẩn đoán và điều trị phục vụ người bệnh.

Tấm gương sáng về đạo đức người Thày, tinh thần làm việc và nghiên cứu khoa học không mệt mỏi, luôn say mê công tác trồng người, luôn hướng tới việc kiện toàn công tác chẩn đoán và điều trị giúp người bệnh vơi bớt đi những lo âu, nhọc nhằm để tiếp cận với cuộc sống chất lượng hơn, đã giúp nhiều thế hệ học trò chúng em sống và phấn đấu một cuộc sống hữu ích hơn vì cộng đồng.

Hè Hà Nội năm 2016

Người viết: PGS.TS. Nguyễn Văn Hưng

Trưởng Bộ môn Giải phẫu bệnh Đại học Y Hà Nội

Bình luận

Tin tức mới

Vinashine
Vanban